Thơ Lục Bát là gì?

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác. Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh và vần rất nghiêm ngặt, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

 Thơ Lục Bát là một thể thơ đặc sắc của dân tộc ta, Thơ lục bát có mặt trong hầu hết các làn điệu dân ca, ca dao, với sức sống lâu bền và phát triển liên tục. Chắc chắn, thể thơ Lục Bát có trước chữ Quốc ngữ, nhờ nó mà hàng vạn những câu dân ca, ca dao, tục ngữ của ông bà ta xưa đã được con cháu truyền miệng từ đời này sang đời khác, tồn tại cho tới hôm nay và mai sau.

Bước 1 - Cách Gieo Vần - Chữ: Cách Gieo Vần-Chữ cuối của câu trên (tức câu 6) phải vần với chữ thứ sáu của câu dưới (tức câu 8). Cứ mỗi hai câu thì đổi vần, và bao giờ cũng gieo vần bằng (còn gọi là bằng hoặc bình, tức có dấu huyền hoặc không dấu). Ký hiệu của bằng là B. Ðặc biệt chữ thứ tư của câu 6 và câu 8 và chữ thứ bảy của câu 8 luôn luôn được gieo ở vần trắc hay trắc (tức có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, hoặc dấu nặng). Ký hiệu của trắc là T. Chữ thứ sáu của câu 8 được gọi là yêu vận (vần lưng chừng câu), và chữ thứ 8 của câu tám được gọi là cước vận (vần cuối câu). Vận hay vần là tiếng đồng thanh với nhau. Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó).

Ví dụ: hòn, non, mòn, con... Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận. Ví dụ: tin đi với tiên. 

Bước 2 - Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B là Bằng, T là Trắc, V là Vần. 

Câu 6: B B T T B B 
Câu 8: B B T T B B T B 

Ví dụ: 
Câu 6: Trăm năm | trong cõi | người ta 
Câu 8: Chữ tài | chữ mệnh | khéo là | ghét nhau 
Câu 6: Trải qua | một cuộc | bể dâu 
Câu 8: Những điều | trông thấy | mà đau | đớn lòng 
(Kiều) 

Ghi chú: Chữ là và đau là yêu vận (tức là vần đặt ở trong câu); chữ nhau và lòng là cước vận (tức là vần đặt ở cuối câu). Chữ thứ 6 của câu 6 (ta) hiệp vận (V) với chữ thứ 6 của câu 8 (là), chữ thứ 8 (nhau) của câu 8 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (dâu) của câu 6, chữ thứ 6 (dâu) của câu 6 hiệp vận (V) với chữ thứ 6 (đau) của câu 8. 

Biệt lệ - Tuy luật bằng trắc đã qui định như ở trên, nhưng những chữ thứ 1, thứ 3 và thứ 5 nếu không theo đúng luật thì cũng không sao. Cái biệt lệ ấy được gọi là "nhất, tam, ngũ bất luận", có nghĩa là chữ thứ 1, chữ thứ 3 và chữ thứ 5 không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật. Còn các chữ thứ 2, chữ thứ 4, và chữ thứ 6 bắt buộc phải theo đúng luật (phân minh), do câu "nhì, tứ, lục phân minh". 

Ví dụ: 
Trăm năm trong cõi người ta (Kiều) 
(Ghi chú: chữ thứ 3 (trong) đáng lẽ thuộc vần Trắc, nhưng lại đổi thành vần Bằng). 
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (Kiều) 
(Ghi chú: chữ thứ 1 (Chữ) và thứ 5 (khéo) đáng lẽ thuộc vần Bằng, nhưng lại đổi thành vần Trắc). 

Bước 3 - Thanh:  Thanh gồm có Trầm Bình ThanhPhù Bình Thanh. Trầm Bình Thanh là những tiếng hay chữ có dấu huyền. Ví dụ: là, lòng, phòng... Phù Bình Thanh là những tiếng hay chữ không có dấu. Ví dụ: nhau, đau, mau... Trong câu 8, hai chữ thứ 6 và thứ 8 luôn luôn ở vần Bằng, nhưng không được có cùng một thanh. Có như thế, âm điệu mới êm ái và dễ nghe. Nếu chữ thứ 6 thuộc Phù Bình Thanh thì chữ thứ 8 phải thuộc Trầm Bình Thanh, và ngược lại. 

Ví dụ: 
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. 
(Ghi chú: là thuộc Trầm Bình Thanh, nhau thuộc Phù Bình Thanh). 
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 
(Ghi chú: đau thuộc Phù Bình Thanh, lòng thuộc Trầm Bình Thanh). 

Bước 4 - Phá Luật:  Phá Luật  - Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp người làm thơ thích phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như thường lệ. Câu 6 cũng được ngắt ra làm hai vế. 

Ví dụ:

Mai cốt cách | tuyết tinh thần (B T T T B 
Mỗi người | một vẻ | mười phân | vẹn mười (T B T T B B T)  (Kiều) 
Ðau đớn thay | phận đàn bà (B T B T B ) (Kiều) 
Khi tựa gối | khi cúi đầu (B T T B T ) (Kiều) 
Ðồ tế nhuyễn | của riêng tây (B T T T B )
Sạch sành sanh vét | cho đầy túi tham (T B B T B B T ) (Kiều) 

Biến Thể Lục Bát 
Biến Thể Lục Bát là thể văn biến đổi ở cách gieo vần. 

Ví dụ: 
Câu 6: Vừa ra đến chợ một khi 
Câu 8: Thấy rồng che phủ tứ vi một người 
Câu 6: Nguyên nàng số lý nghề nòi 
Câu 8: Dưới đất trên trời thuộc hết mọi phương (T T B B T T B )
(Truyện Lý Công ) 

Chú thích: Câu tám thứ hai vừa phá luật vừa biến thể. Chữ thứ tư (trời) của câu 8 lại vần với chữ thứ sáu (nòi) của câu 6. 
Hoặc: 

Câu 6: Khoan khoan chân bước bên đường 
Câu 8: Thấy chàng họ Lý ngồi đương ăn mày 
Câu 6: Ðầu thời đội nón cỏ may 
Câu 8: Mặt võ mình gầy cầm sách giờ lâu (T T B B B T B )
(Truyện Lý Công) 

Chú thích: Câu tám thứ hai vừa phá luật vừa biến thể. Chữ thứ tư (gầy) của câu 8 lại vần với chữ thứ sáu (may) của câu 6. 

Trên đây là một số niêm luật căn bản của thơ Lục Bát. Làm thơ Lục Bát tuy dễ mà khó. Cái khó là ở cách gieo vần, làm sao đừng cho bị lạc vận hoặc cưỡng vận. Một bài thơ hay mà bị lạc vận hoặc cưỡng vận thì sẽ làm hỏng cả bài thơ, cũng giống như một con sâu làm hỏng cả nồi canh ngon vậy! 

Người viết sẽ nêu một vài ví dụ điển hình để bạn thấy những khuyết điểm nho nhỏ mà người làm thơ không để ý tới, có thể vì chưa nắm vững niêm luật hoặc cũng có thể vì coi thường niêm luật. Sự không hiệp vận ấy gọi là cưỡng vận hay ép vận (tin đi với tiên) và lạc vận (mưa đi với mây). 

(Ghi Chú: Về Vần hay Vận, xin xem một bài viết riêng về Thanh, Bằng Trắc và Vần của cùng tác giả sẽ cống hiến các bạn trong một dịp khác.) 

Ví dụ: 
Nhớ xuân lửa đạn rừng đồi 
Nhớ đêm không ngủ cuối trời Việt Nam 
Bây giờ mượn chút thời gian 
Chia cho hiện tại để làm quà Xuân 


Chú thích: 
đồi đi với trời là Cưỡng vận (đồi với trời thuộc Vần Thông,1 chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm). 
Nam đi với gian là Lạc vận (Nam và gian không thuộc Vần Chính 2 và Vần Thông). 
gian đi với làm là Lạc vận (gian và làm không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

Nhớ mi quầng biệt Quỳnh Côi 
Nhớ hương bồ kết nhớ người mẹ quê 
Chú thích: 
Côi đi với người là Lạc vận (Côi và người không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

Nhớ em phụng phịu: trời mưa 
Giao thừa chẳng được vui đùa với nhau 
Chú thích: 
Mưa đi với đùa là Cưỡng vận (mưa và đùa thuộc Vần Thông, chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm). 

Có người hôm ấy chải đầu 
Vô tình tóc cứ bay vào vai ta 
Chú thích: 
đầu đi với vào là Lạc vận (đầu và vào không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

Ly cà phê Mỹ nhạt hơn 
Nhưng đầy chất đắng trong hồn tha hương 
Chú thích: 
hơn đi với hồn là Cưỡng vận (hơn và hồn thuộc Vần Thông, chỉ hợp về Thanh chứ không hợp về Âm). 

Vẫn không gian ấy bão bùng 
Hay mồ hôi tưới trên thung lũng cằn 
Bây giờ ngồi giữa thế gian 
So giây ướm thử mấy gam giao mùa 

Chú thích: 
cằn đi với gian là Lạc vận (cằn và gian không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 
gian đi với gam là Lạc vận (gian và gam không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

Gió thơm từ thuở hoàng hôn 
Theo chân ánh sáng về ôm ngang trời 
Chú thích: 
hôn đi với ôm là Lạc vận (hôn và ôm không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

Rừng Xuân hoa lá êm đềm 
Có người thơ thẩn đi tìm phong lan 
Chú thích: 
đềm đi với tìm là Lạc vận (đềm và tìm không thuộc Vần Chính và Vần Thông). 

1 Vần Thông là những vần chỉ hợp nhau về thanh, còn âm thì tương tự chớ không hợp hẳn. 
2 Vần Chính là những vần mà cả thanh lẫn âm đều hợp nhau.

 

----------------------------------------------------------o0o-----------------------------------------

 

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước