Ý Nghĩa Của Trò Chơi [Trò chơi]

Thứ sáu - 15/05/2015 05:20

Diễn ra trong khung cảnh lễ hội, các trò chơi dân gian đều mang ít nhiều quan hệ với lễ thức và mang theo một ý nghĩa tôn giáo nhất định. Các nhà nghiên cứu ...

Diễn ra trong khung cảnh lễ hội, các trò chơi dân gian đều mang ít nhiều quan hệ với lễ thức và mang theo một ý nghĩa tôn giáo nhất định. Các nhà nghiên cứu về trò chơi vận động không có ý định dựng lại bộ mặt tôn giáo của mọi trò chơi, mà chỉ muốn qua một số trò tiêu biểu để tìm hiểu những khía cạnh về tính chất và ý nghĩa tôn giáo của chúng, và chúng tôi sẽ phát triển trò chơi như là một phương tiện giáo dục thể chất có hiệu quả cho người tham gia lễ hội. Tinh thần này vốn xuất phát từ những tín ngưỡng xa xưa mà người thời nay khó cảm nhận : chẳng hạn trò múa mo ở xã Sơn Đồng (Hà Sơn Bình). Xã này mở hội vào ngày mồng 6 tháng 2. Buổi chiều sau khi tế lễ xong, trai chưa vợ, gái chưa chồng đến tụ họp tại đình. Lúc này một người vừa múa vừa hát trước bàn thờ, tay trái cầm một khúc tre tượng trưng cho sinh thực khí nam, tay phải cầm chiếc mo cau tượng trưng cho sinh thực khí nữ. Trong khi múa người đó lấy khúc tre đắp vào mo cau, biểu hiện động tác giao phối. Cuối cùng, người đó tung khúc tre và mo cau cho trai gái tranh nhau cướp. Những người có mặt ùa vào chen lấn xô đẩy, cố giành cho được khúc tre và mo cau, đến mức khúc tre bị gãy làm nhiều đoạn, mo cau bị xé thành nhiều mảnh. Tất nhiên con gái thì cố giành lấy những khúc tre. Con trai cố giành lấy những mảnh mo cau. Người nào lấy được một trong những mảnh đó thì tin sẽ gặp nhiều may mắn trong năm, ở đây không chỉ là may mắn trong hôn nhân, mà là may mắn nói chung trong sản xuất và đời sống.

Hay đánh phết, trò chơi thường được tổ chức trong ngày hội của các làng Bích Đại và Thượng Lập (Vĩnh PhúWink tương truyền là trò luyện quân cúa nữ binh thời Hai Bà Trưng. Vì vậy xưa kia khi tham gia trò chơi chỉ có con gái, sau này trai tráng cũng được làng chọn ra nhưng phải cải trang thành nữ binh. Thực ra trò chơi này có nguồn gốc xa hơn nữa. Cuộc chơi diễn ra trước sân đình, người chơi chia làm hai phe, cuối sân của mỗi bên đào một cái lỗ đường kính vừa đủ để lọt quả cầu. Cầu đẽo bằng gốc chuối, ngoài phủ sơn đỏ. Người chơi dùng gậy tre đầu có ngéo, đẩy quả cầu về phía lỗ bên mình cho đến khi quả cầu lọt xuống lỗ của bên nào thì bên đó thắng cuộc. Vì số người tham gia không hạn chế (tất nhiên chỉ thuộc những thành viên của hai giáp nhất định) nên cuộc chơi diễn ra rất lâu mới kết thúc. Giáp nào giành được quả cầu sẽ may mắn cho toàn cộng đồng của mình. 
Ở đây, thấy hai loại trò chơi có một điểm khác nhau cơ bản, đó là quy tắc chơi. Một đằng là trò chơi không tuân thủ một quy tắc nào cả chỉ nhằm một mục đích duy nhất là từng người cố tranh cho mình một mẩu sinh thực khí. Còn một bên là trò chơi phải tuân thủ một số quy định nhất định, tuy chưa phải là những quy định chặt chẽ như trò chơi thể thao hiện đại, nhưng dù sao cũng vẫn là những ràng buộc khiến người chơi phải tuân theo. Nói một cách khác thì một bên là trò chơi mang tính chất ồ ạt, một bên là trò chơi mang tính quy tắc.

 

Từ chỗ khác nhau đó, chúng ta thấy trò chơi mang tính chất ồ ạt thường đi đôi với tín ngưỡng phồn thực, vì tính chất ồ ạt đã chứa đựng sâu trong nội dung của khái niệm phồn thực. Còn trò chơi có quy tắc thường gắn với hình thái thờ mặt trời vốn theo một quy tắc nhất định. Các trò chơi diễn ra theo một quy ước minh bạch, lấy những quy ước ấy (và mục đích bao trùm trong đó làm lẽ sống) như nhóm trò chơi đánh phết, bơi chải, vật cù… Chúng tôi tạm gọi trò chơi có quy tắc, còn những trò chơi diễn ra trong không khí ầm ĩ không có nguyên tắc rõ ràng lấy cái náo nhiệt làm lý do tồn tại như múa mo, tranh cướp nỏ nường… chúng tôi cũng tạm gọi là trò chơi ồ ạt. Với lễ hội của người Việt các trò chơi được hấp thụ (hoặc từng được hấp thụ) vào lễ tiết, thi đánh phết thuộc hình thái thờ phụng mặt trời, còn múa mo thuộc nghi lễ phồn thực.

 

 

Nhưng do yêu cầu xác định kết quả của các cuộc thi đấu và do những ý nghĩ về tôn giáo dần dần mất đi, nên luật lệ của một số trò chơi cũng được quy định chặt chẽ hơn. Những người tham gia phải tuân thủ những quy tắc đề ra cho cuộc chơi, nhất là trong các trò chơi ganh đua giữa hai người, giữa hai nhóm người mà yêu cầu của cuộc đua ngày càng đảm bảo người tham gia phát huy sự khéo léo, thông minh, bản lĩnh, và nghị lực thi đấu với những cố gắng phi thường, đấy là một trong những cơ sở hình thành tình thần thượng võ, biến trò chơi dân gian thành những hoạt động, rèn luyện cơ thể và nghị lực.

 

 

Tham gia các trò chơi dân gian thường là những tập thể được quy định rõ ràng, những người tham gia cuộc chơi phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện do tập tục đặt ra. Qua các nhóm tham gia trò chơi, ta sẽ thấy phản ánh các thứ bậc xã hội và quan niệm của người xưa đối với các thứ bậc đó. Sự phân biệt trên là theo lứa tuổi được phản ánh trong một số trò chơi chỉ chấp nhận những trai chưa vợ, gái chưa chồng (như trò múa sinh thực khí, vật cù, đánh phết) hoặc phải là người già lứa tuổi 50 (trò tranh cấy mộc tất) đôi khi còn quy định một số tuổi nhất định (các cô gái làm tướng giặc trong hội Phù đổng phải là thiếu nữ 15 tuổi). Có khi còn phản ánh những nhóm hôn nhân cổ như trong hội đua thuyền Đào Xá (Vính PhúWink hai chiếc thuyền dự thi trang trid hình đầu rồng và đầu chim, biểu tượng âm và dương, là dấu vết in lại hình thái hôn nhân hỗn hợp của hai nhóm thị tộc xưa. Lưu lại sâu đậm hơn hết là sự tham gia và vai trò của các giáp, qua các trò chơi, ta vẫn thấy vai trò sống động của nó trong việc tổ chức, phân công và điều hành mọi diễn biến của buổi lễ.

 

 

Chính trò chơi đã góp phần thắt chặt dây liên kết giữa các nhóm xã hội sẵn có (nhóm tuổi, nhóm nam, nữ) đồng thời góp phần xác định vai trò của những nhóm xã hội được hình thành theo tạp quán (nhóm hôn nhân, nhóm địa vực cư trú, giáp). Các lứa tuổi, các thân phận khác nhau trong đời sống, sự phân biệt các tầng lớp xã hội và sự phân chia tộc người đều có ảnh hưởng đến nội dung và tính chất của trò chơi trong hoạt động văn hóa. Có thể nói rằng mỗi nhóm tham gia cuộc chơi là một nhóm cố định có liên kết với nhau về văn hóa. Sự thành công hay thất bại của nhóm đó liên quan đến vinh dự của cả cộng đồng mà nó đại diện. Nhóm tham gia trò chơi thường là những nhóm xã hội được hình thành và đại diện của cộng đồng (đó là giáp hay làng xãWink.

 

 

Hiện nay trong quá trình phát triển của xã hội người hay tập thể tham gia thay mặt cho những đơn vị xã hội rộng lớn hơn, như đại diện cho một địa phương trong một cuộc thi đấu thể thao quốc gia, hoặc đại diện cho cả dân tộc trong thi đấu thể thao quốc tế.

 

 

Ý nghĩa quan trọng thứ hai của trò chơi là sự phản ánh những hình thái tín ngưỡng cổ truyền . Bất cứ một hình thái tín ngưỡng nào cũng có quá trình phát sinh, phát triển, tiêu vong hay biến dạng, nhưng dấu ấn ghi lại trong các trò chơi truyền thống thì được giữ lại một cách dai giẳng. Tuy rằng đến một lúc nào đấy, người tham gia cuộc chơi có thể không còn cam phận được nữa. Nhưng qua các trò chơi ta có thể tìm thấy bóng dáng của các hình thái tín ngưỡng xưa.

 

 

Các ý nghĩa tín ngưỡng đầu tiên của hội lễ là cầu mong cho một năm sản xuất thuận hòa, mưa nắng phải thì, mùa màng tươi tốt, phần lớn hoạt động của nó gắn liền với tín ngưỡng phồn thực. Ý nghĩa phồn thực gần gũi nhất là tái tạo sự sinh sản của vạn vật, biểu hiện là sự sung bái sinh thực khí, giao duyên nam nữ. Hình tượng sinh thực khí âm dương bằng gỗ của Đồng Kị (Hà Bắc) hay bằng tre với mo cau của Sơn Đông (Hà Sơn Bình) hoặc 36 cái nỏ nường ở Di Nậu (Vĩnh PhúWink được rước trọng hội làng, với những câu hát “Cái sự làm vầy, cái sự làm sao”… chỉ là phản ánh một tín ngưỡng nguyên thủy tồn tại phổ biến ở nhiều tộc người trên thế giới.

 

 

Việc múa và rước sinh thực khí, kèm theo những lời ca, những động tác gợi lên những hình ảnh giao phối, là những trò chơi hay những lễ thức tồn tại ở nhiều làng xã chạy suốt từ trung du đến đồng bằng Bắc bộ. Người ta thường giải thích một cách chung chung rằng sở dĩ có những tục lệ đó, vì các làng này thờ “Dâm thần”. Thực ra đó chỉ là sự đáng giá thiếu khoa học trên nhãn quan nho giáo và đã trở thành định kiến khiến nhiều dân thuộc các làng có tục lệ trên cũng không dám phơi bày những nghi thức này ra. Tuy họ vẫn thực hành hàng năm, nhưng phải làm dấu diếm, không dám để cho người ngoài biết, chỉ giữ riêng trong cộng đồng làng xã mình.

 

 

Việc tranh giành sinh thực khí có khi được thể hiện bằng một biểu trưng khác. Như ở hội làng Long Khánh (Hà Bắc) mở từ ngày 7 đến ngày 15 hay 28 tháng 2 vào đêm kết thúc hội, ông chủ tế cầm một khúc gỗ lớn bằng loại cây sơn, gọi là cây mộc tất, ném ra giữa sân đình, các cụ già trong làng từ 50 tuổi trở lên, cởi trần đóng khố đỏ chuẩn vị sẵn sang, cùng ùa ra tranh lấy cây một tất. Cuộc tranh giành từ sân đình kéo ra ngoài đồng, dân làng hò reo cổ vũ trong tiếng trống liên hồi. Cuộc chơi từ nửa đêm đến rạng sáng hôm sau mới dừng, cây mộc tất được rửa sạch đưa về trong đình. Một trò chơi khác tuy không được tranh giành nhưng cũng mang một ý nghĩa tương tự, được thực hiện dưới hình thức trai gái chọc gẹo hay tỏ tình nhau. Tiêu biểu là hội “rã la” ở làng La (Hà Sơn Bình) diễn ra cũng vào nửa đêm, đúng vào đêm lễ hội chấm dứt. Khi đó mọi người có mặt trong đình, bóng đèn đuốc tắt phụt giữa đêm tối hồi vang lên ba hồi trống, rồi ba hồi chiêng, nhịp đánh rất chậm, có thể gọi là cố tình chậm. Trong khi đó trai gái cạnh nhau cứ mặc sức … cho đến khi hồi chiêng trống chấm dứt, đèn đuốc được thắp sáng trở lại. Không cần phải bình gì thêm, ai cũng thấy ngay được ý nghĩa phồn thực toát ra từ lễ thức của các trò chơi nói trên.

 

 

Tục thờ sinh thực khí Linga và Yoni mà ở nước ta còn lưu lại dấu vết trong tục thờ “Đá mẹ” hay “xoa đàu bụt” để cầu tự. Nếu như ở những nền văn minh Ấn Độ hóa ở Đông Nam Á và Nam Á (như Cham – Pa chẳng hạn) hình tượng đó vẫn được thờ cúng trang trọng trong đền tháp của các vương triều xưa, thì ở nước ta do sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởng nho giáo, tín ngưỡng đó đa bị đẩy lùi khỏi tôn giáo chính thống, chỉ còn để lại dấu vết trong một số trò chơi hội làng. Tục tắt đèn để trai gái tự do đùa nghịch tồn tại trong nhiều hội làng như ở La, Ngô Xá, làng Ném, Đông Yên, Đan Nhiễm (đều ở Bắc HàWink và Duyên Tục (Thái Bình)… hay trò nam nữ thỏa sức chen lấn nhau trong hội làng Nga Hoàng (Hà Bắc). Phải chăng đó là dấu vết còn lại của sự chung sống tự nhiên của con người khởi nguyên từ buổi bình mình của lịch sử? Hay đây chỉ là những hành động có tính chất biểu trưng để nhắc lại cái nguyên lý muôn thủa của cái sự tái sinh con người?

 

 

Cầu phồn thực hay cầu sinh sôi nảy nở, đặt vào lễ hội đầu năm, trước một vụ sản xuất mới là điểu tưởng như tất nhiên, không có gì đáng nói. Sự thực e còn phức tạp hơn. Đầu năm còn là khởi điểm mở ra một chu kỳ mới của thời gian. Các chu kỳ nối tiếp nhau trong thời gian không ngừng lặp lại giống nhau: Xuân – Hạ - Thu – Đông… cứ thế mà chuyển tiếp vô tận. Cho nên không có gì lạ nếu đầu năm có thể đồng nhất với khởi nguyên trong huyền thoại, khi vũ trụ còn hỗn mang, khi trời đất chưa phân hóa. Đấy là thời kỳ đòi hỏi một tác động đầu tiên cho hỗn mang chấm dứt, cho cuộc sống ra đời. Nam nữ giao phối vốn không phải là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài: nó là bản năng, vĩnh viễn là bản năng, hơn thế còn có tác dụng gây cười. Cộng thêm vào đó cái hỗn mang nguyên thủy mà người ta tượng trưng bằng một cuộc tranh giành vô tổ chức giữa người với người, thế là tạo nên chất ồ ạt của những lễ thức hay trò chơi cầu phồn thực.

 

 

Ra đời muộn hơn tín ngưỡng phồn thực là sự sung bái những hiện tượng thiên nhiên đã có tác dụng tích cực, tạo nên sự sống trên trái đất như: Mặt trăng, mặt trời, giớ mưa, sấm chớp, đất đai, sông ngòi, rừng núi… được thần linh hóa. Nhiều trò chơi khi ra đời đã mang mục đích mô phỏng sự vận hành của những thiên thể hay hiện tượng thiên nhiên đó. Trong các trò chơi đánh phết, vật cù, người ta chia làm hai phe, tranh nhau quả cầu bằng gốc tre sơn đỏ. Trong trò chơi cướp cầu, mọi người đều xông ra tranh cho riêng mình cái quả cầu khâu bằng vải đỏ, tuy khác nhau về hình thức nhưng có thể dùng chung một ý nghĩa. Sự tranh giành quả cầu đỏ là một biểu hiện của hình thái thờ phụng mặt trời, mà người ta thấy tồn tại ở nhiều tộc người từ Châu Á sang Châu Âu đến Châu Mỹ thời tiền Côlông. Trong trò chơi tung còn, hai bên trai gái tung quả cầu như lặp lại “sự vận hành” của mặt trời qua vòm trời xanh, cầu chúc cho sự thuận hòa, mưa gió, trai gái đủ đôi.

 

 

Đua thuyền là một trò chơi, đồng thời là một nghi thức gắn liền với hội nước tồn tại ở hầu hết các dân tộc trồng lúa và đánh cá vùng Đông Nam Á. Theo cổ tích Trung Hoa mô tả các phong tục đua thuyền hội nước xa xưa nhất đều xảy ra ở khu vực sông Trường Giang trở về phía nam, và gắn cho việt vương cầu tiễn là người “sáng lập” ra trò chơi đó. Đây là khu vực cư trú của dân tộc Việt, Thái, Mã Lai cổ đại, mà các nhà nhân chủng học gộp chúng vào chủng tộc Anh Đônnêđiêng. Đua thuyền là một phong tục đi đôi với việc thờ thần nước, thường cử hành vào đầu mùa mưa hay mùa nước lên (tương đương với tháng 3 đến tháng 5 âm lịch) hoặc vào mùa nước xuống kết thúc lũ (từ cuối tháng 8 sang tháng 9). Trong nghi thức cầu mưa xưa, còn kèm theo công việc đánh trống đồng và các loại cồng chiêng bằng đồng mà một số nhà dân tộc học đã tìm thấy hiện tượng phạm vi phân bổ của trống đồng phù hợp với khu vực tồn tại tục đua thuyền chạy suốt từ miền Hoa Nam đến bán đảo Đông Dương sang tận Mã Lai, Indonexia (theo Porec – Maspero).

 

 

Hình ảnh những chiếc thuyền trang trí trên trống đồng Đông Sơn là chứng tích xưa nhất của nghi thức đó. Từ trống đồng ta thấy rõ những thủy thủ hóa trang bơi chèo theo nhịp trống, gợi lên tiếng sấm báo hiệu những cơn mưa đầu mùa. Ở Việt Nam, các hội đua thuyền phần lớn được tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5, trùng hợp với mùa giông ở miền Bắc. Hình ảnh những tay chèo đóng khố đỏ, nhịp nhàng bơi trong tiếng trống, tiếng chiêng giữ nhịp, vun vút lao đi như ánh chớp, kèm theo tiếng sấm rền; đó là sự cầu mong cho những cơn giông đầu mùa đến đúng lúc để cho “cây lúa phất cờ mà lên”. Chúng ta thấy hội đua thuyền ở trên sông Trường Yên (Hà Nam Ninh) ở ngày 2 tháng 2, hội Bạch Hạc ( Vĩnh PhúWink đua thuyền trên sông Lô ngày 10 tháng 3 đến ngày 5 tháng 4. Bên cạnh đó còn có nhiều hội đua thuyền tổ chức vào cuối mùa thu như hội Chùa Keo (Thái Bình) đua thuyền ngày 15 tháng 9, hội Hành Thiện (Hà Nam Ninh) mở vào ngày 11 đến 15 tháng 9. Thời gian đó trùng hợp với mùa hội nước của người Lào và Campuchia, mà nghi lễ chính là cuộc đua thuyền trên sông. Hiện tượng đó cho thấy rõ hơn cả tầng văn hóa chung của cư dân Đông Nam Á là một bộ phận.
Thả diều cũng là một trò chơi phổ biến ở hầu hết các dân tộc Đông Nam Á. Tên gọi “diều” của Việt Nam đã gắn bó với loại chim “diều hâu”, cũng giống như tên gọi của các tộc người khác ở miền nam Trung Hoa, các tộc người Tây Nguyên, người Chàm, người Khơme và các dân tộc khác ở miền hải đảo. .. đều gọi cái diều bằng tên gọi chỉ những họ chim thuộc loại ăn thịt như: Chim ưng, cú… Loại chim ăn thịt này trong huyền thoại của các tộc Đông Nam Á là hình tượng đối lập với các loại cá và rắn sống dưới nước, nên cũng trở thành biểu tượng đối lập với mua và lũ lụt. Ở một số nước Ấn Độ hóa diều còn là biểu tượng của chim thần Guruda, kẻ thù của loài rắn, nguyên nhân gây nên lũ lụt. Vì vậy, phần lớn hội thả diều ở nước ta thường được tổ chức vào cuối mùa thu, khoảng tháng 9 tức là lúc kết thúc mùa nước lên. Trong một dạng thần thoại khác, con chim là biểu tượng của mặt trời, đem ánh sáng đến chiếu sáng bóng tối của mùa mưa lũ. Vì vậy hội thi diều có phần nào liên quan đến hình thái thờ mặt trời của người Việt cổ.

 

 

Đối với cư dân miền biển, thờ mặt trăng lại ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ, nên hình thái thờ mặt trăng (xuất hiện trước khi mặt trời) lại được bảo lưu lâu dài hơn, vì sự thay đổi của tuần trăng quyết định các quy luật lên xuống của thủy triều, gắn bó với nghề đi biển và đánh cá. Hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng) là một biểu hiện sinh động của tín ngưỡng đó. Hội mở vào ngày 10 tháng 8, gần tiết trung thu là mùa trăng sáng nhất trong năm. Thần tích địa phương kể lại chuyện đôi trâu vàng từ dưới biển lên chọi nhau trên bờ là hình mẫu tồn tại phổ biến trong thần thoại ở nhiều vùng dân cư Nam Á và Hải đảo, liên quan đến thờ mặt trăng. Hình dáng cong cong của sừng trâu đã tạo nên tư duy liên tưởng về hình ảnh trăng lưỡi liềm và con trâu cũng trở thành biểu tượng của mặt trăng trong huyền tích của nhiều dân tộc cổ. Sự tích trâu chọi nhau là biểu hiện của sự xung đột mang tính lưỡng hợp, nguồn gốc năng lượng của sự sống. Tục chọi trâu còn có mặt ở cả hội làng xã ven biển Thủy Nguyên (Hải Phòng đến Nghệ Tĩnh và có thể còn ở nhiều nơi khác).

 

 

Nếu như trò chơi đánh đu đã trở thành phổ biến ở nước ta vào dịp lễ hội xuân thì đối với cư dân miền Bắc Ấn Độm cách đây không lâu vẫn còn quan niệm các “ngày hội đánh đu” mùa xuân là lễ thức bắt nguồn từ tục sang bái thần lúa A Gai – đôi nam nữ đứng trên đu tượng trưng cho thần chăn nuôi Krosua và cô gái Radha. Hình ảnh các đu qua lại vạch một đường cong cố định là sự mô phỏng nhịp điệu tuần hoàn của ngày tháng và các mùa nối tiếp nhau. Ở nước ta trò chơi này không biết đã được giải thích như thế nào, nhưng rõ ràng là tính chất thiêng liêng đã bị phai nhạt nhiều, để chỉ còn lại là tính trần tục của một trò chơi mang tính giao duyên, tạo nên cái náo nức của ngày xuân.

 

 

“Bốn cột khen ai khéo léo trồng

 

 

Người thì lên đánh kẻ ngồi trông…”

 

 

Do những ý nghĩ tín ngưỡng của trò chơi, nên trong một số trường hợp, kết quả cuộc chơi chỉ là ước lệ, đã được định sẵn cho phù hợp với nghi thức của tín ngưỡng. Trong trò tranh cột ở hội Đổng Kỵ (Hà Bắc) vào đêm giao thừa bốn ông đám thay mặt cho 4 giáp ra đình tranh nhau ôm cây cột cái, có sự hỗ trợ của trai đinh giáp mình. Cuộc tranh giành diễn ra thực sự, không ai nhường nhịn ai, trước sự chứng kiến của các quan viên và toàn thể dân làng. Đến ngày mồng 3 tết, vị sư chụ trì chàu làng thay mặt cho một quyền uy nào đấy, đứng ra phân sử, sắp xếp bốn ông đám ngồi vào bốn cột theo kết quả của cuộc bốc thăm. Người giữ được cột cái, cuối cùng chưa phải là người ngồi ở cột đó trong năm, vì sự sắp xếp không dựa vào kết quả của cuộc tranh chấp. Cũng như trong hội chọi trâu dù thắng dù thua thì cuối cùng con số lọt vào trung kết vẫn là xã Đồ Sơn 3 trâu, xã Đồ Hải 2 trâu và xã Ngọc Xuyên chỉ có 1 trâu. Con số đó nói lên vị trí khác nhau của từng xã trong vùng (tức tổng Đồ Sơn xưa) chứ không phản ánh thực tế của cuộc đấu loại.

 

 

Cuối cùng là các trò chơi mang tính thể thao, chủ yếu dựa vào tài năng khéo léo và sự rèn luyện của từng cá nhân, của từng nhóm người, nhưng cũng không thoát khỏi những ràng buộc của các quan niệm tôn giáo. Ngày hội thể thao của các thành bang Hy Lạp cổ đại được tổ chức cũng vì mục đích tôn giáo nhằm suy tôn các vị thần trên đỉnh núi Olympia. Các môn phái vật và võ, ngoài các vị tổ sư xưa, còn có những thần linh riêng mà môn đô tôn thờ. Ta còn thấy nhiều tổ chức của nhiều môn phái võ thuật cũng gần gũi với tổ chức của các giáo phái. Tinh thần thượng võ trước hết là nhằm bảo vệ danh dự của môn phái, nó mang một ý nghĩa thiêng liêng và thân ái, không chỉ mang lại niềm tự hào cho từng cá nhân, mà rộng hơn mang ý nghĩa cao hơn trở thành niềm tự hào của cả dân tộc và không phải ngẫu nhiên mà ngày nay thế giới xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn, thân thiện hơn, đấu tranh cho sự nghiệp hòa bình thân ái đều phải xem việc tìm hiểu văn hóa truyền thống và tôn trọng di sản của từng dân tộc và đương là điều đầu tiên. Văn hóa thể thao, tinh thần thượng võ – chính là khả năng phát huy sức mạnh, kiềm chế thói hung bạo, hiểu mình và hiểu người mong muốn sống hòa bình.

 

 

Do việc thi đấu đòi hỏi phải có một kỹ năng và rèn luyện nhất định nên không phải ai cũng có thể tham gia các trò chơi vật võ. Từ đó đẻ ra việc luyện tập và truyền nghề. Với kỹ thuật phức tạp của môn thể thao này, nó không thể dừng lại trong tổ chức của làng xã, người thầy truyền thụ võ nghệ không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng mình. Vì vậy mới xuất hiện những lò vật, lò võ, môn phái, có phạm vi bao trùm nhiều làng, hình thành một vùng với những món nghề riêng. Thoát thân từ hội làng, những cuộc thi vật, thi võ được tổ chức cùng lễ hội, nhưng dần dần trở thành một hoạt động độc lập mang theo tinh thần thượng võ.

 

 

Môn bắn cung, môn đá cầu, môn vật… mà ngày nay có mặt trong các đại hội thế vận cuốn hút hàng vạn người luyện tập, hàng triệu người say mê có ý nghĩa không những là một hoạt động văn hóa thể chất mà là cầu nối khẳng định tính kế thừa và nâng cao của các trò chơi hội hè truyền thống. Đặc biệt các trò chơi khéo léo, náo nhiệt của trẻ con cũng như người lớn như: Bơi, bơi chải, chạy, chạy cướp cờ, đánh phết, đánh khúc môn cầu, đánh đáo, đánh khăng, kéo co, chơi ù, nhảy dây, đi cà kheo, trượt tuyết.., đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tinh thần chơi của nó.

 

 

Trong xã hội nguyên thủy, trẻ em và người lớn được phân biệt ở vai trò của hai lớp người đối với sản xuất, do đó chưa đến sự phân cách về quyền lợi, nghĩa vụ và sự đối xử khác nhau trong xã hội. Cũng do vị trí được phân công khác nhau trong sản xuất, nên vai trò của con trai và con gái cũng được phân chia rõ rệt. Con trai trở thành người lớn ở tuổi thành niên (từ 15 tuổi đến 18 tuổi tùy theo tập quán của mỗi dân tộc), trở nên một thành viên đầy đủ được tham gia mọi hoạt động sản xuất và mọi hoạt động xã hội của cộng đồng, phải trải qua một nghi thức thử thách gọi là lễ chuyển tiếp (rite depassage). Còn con gái do chức năng chính là duy trì nòi giống, nên được coi là người lớn khi đến tuổi có khả năng sinh đẻ, đánh dấu bằng sự xuất hiện của kinh nguyệt và cũng phải trải qua nghi thức “tẩy uế” cần thiết.

 

 

Trước khi trở nên thành viên chính thức của cộng đồng, đứa trẻ trai và gái được nuôi dưỡng và dạy dỗ theo những tập tục riêng mà mục đích chính là truyền thụ cho chúng những kỹ năng sản xuất và những tri thức của lớp cha anh. Đứa con trai khi hết tuổi cần có sự săn sóc của mẹ (từ 4 đến 6 tuổi – tùy theo tập quán từng nơi) thì được tách khỏi “thế giới” của đàn bà để được tập hợp theo lứa tuổi, chịu sự huấn luyện riêng. Khi sắp đến tuổi trưởng thành còn phải trải qua một giai đoạn nhập môn ở một nơi riêng, dưới sự hướng dẫn của những người chuyên trách, còn con gái thì vẫn tiếp tục sống cùng mẹ, chị và các dì… để tiếp tục học hỏi những chức năng của đàn bà.

 

 

Cách thức học tập chủ yếu của trẻ em là bắt chước việc làm của người lớn để tập cho mình một kỹ năng và trí thức nhất định. Bên cạnh việc học tập có tính bắt buộc và gần như là nghi thức phải tuân thủ, còn có trẻ bắt chước việc làm của người lớn một cách tự nguyện để trở thành trò chơi. Chính thông qua trò chơi mà trẻ tập làm quen với các hoạt động sản xuất và các ứng xử của người lớn mà sau này các em sẽ gia nhập. Với loại hinh trò chơi mô phỏng, các em tập bắn cung, ném lao, đấu vật, đấu võ. Đối với các em gái thì trò chơi phổ biến đầu tiên là trò chơi “làm mẹ và nuôi con” cũng những trò chơi thuộc công việc nội trợ “đi chợ”, “thổi cơm”.

 

 

Những trò chơi này tuy bắt chước hoạt động sản xuất và hoạt động tinh thần của người lớn, nhưng vì là trò chơi nên chúng không phụ thuộc vào những đổi thay của cuộc sống đang diễn ra hàng ngày mà phát triển theo những quy luật riêng, ít nhiều mang tính chất ngưng đọng. Chúng vẫn tiếp tục tồn đọng ngay cả khi những hoạt động sản xuất hay đời sống tinh thần của xã hội đã đổi khác. Ví dụ, một xã hội đã chuyển sang trồng trọt định cư, trẻ em không cần bắt buộc học săn bắn, những trò chơi săn bắn vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay,hoặc khi con người đã dùng sung thay cho đao kiếm, thì trẻ em vẫn chơi trò bắn nỏ,phóng lao, bắn ná. Câu cá là một cách kiếm sống của con người từ muôn thửa, nhưng đối với trẻ em đấy là một hoạt động giải trí gây nhiều hứng thú. Dù sao qua trò chơi của trẻ em chúng ta vẫn có thể tìm lại những hình ảnh của cuộc sống xã hội xưa. Đặc biệt nhiều trò chơi trẻ em còn lưu lại nhiều dấu vết của tín ngưỡng xưa mà ngày nay đã phai mờ. Qua các trò chơi phụ động, cầu hôn người chết sống lại, nhảy hóa trang của trẻ em, người ta có thể phục hồi một số thực hành ma thuật cổ. Mặt khác nhiều trò chơi của trẻ em được đi kèm với các bài đồng giao đôi khi ta thấy vô nghĩa nhưng lại phản ánh những ngôn ngữ hay phản ánh những mối quan hệ xã hội xưa về tính chất, ý nghĩa và sự khác biệt về hình thức (đồng giao - ngôn ngữ trò chơi “chúng tôi xin tách làm một phần riêng” )

 

 

Do không bị phụ thuộc nghi thức của lễ hội như trò chơi người lớn, nên trẻ em có thể chơi bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Tuy trong các lễ hội ở nhiều địa phương, trẻ em vẫn có phần tham gia nhưng nhìn chung hoạt động vui chơi của trẻ em thường được tổ chức riêng biệt bên ngoài xã hội. Cũng vì vậy mà trò chơi trẻ em dễ dàng phổ biến rộng rãi, không hề chịu sự ràng buộc về địa lý. Nếu như những trò chơi người lớn chỉ được thể hiện ở một số địa phương trong một thời điểm nhất định, như hát xoan, hát quan họ, đánh phết, cướp cầu, thì trò chơi trẻ em không hề bị sự hạn chế đó. Trẻ em ở nhiều vùng, thậm chí khắp cả nước, có thể đánh truyền, đánh chắt, đánh đáo, đánh khăng… Thậm chí các trò chơi trẻ em còn được truyền bá trên phạm vi rộng hơn nữa, vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Đến nay chúng ta chưa biết trò chơi nhảy lò cò (marelle) vốn đã có ở nước ngoài từ trước hay do người pháp đưa vào. Vì trẻ em hai nước vẫn chơi trò đó với cách thức giống nhau. Trò chơi ô ăn quan với 10 ô con và 2 ô quan, đã trở thành nổi tiếng với bức tranh của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, lại là một trò chơi phổ biến ở Châu Phi, không những được chơi trong dân gian, mà còn là trò giải trí chính thức của các tù trưởng (một trong những bức tượng đá nổi tiếng của các “vua” người Cu Ba ở đồng cỏ Nam Phi thế kỉ XVII – XVIII, có công phổ biến trò chơi này, gọi là bàn cờ 12 lỗ, để thay thế cho tệ đánh bạc, có tạc hình trò chơi này đặt dưới chân). Người Châu Phi không vạch hình ô quan xuống đất mà đục 12 lỗ trên một tấm ván dày hình thoi, có thể sử dụng lâu dài. Đây cũng là một hiện tượng nói lên sự giao lưu văn hóa có từ lâu đời giữa hai lục địa xã hội.

 

 

Trẻ em dưới 3-4 tuổi chỉ chơi một mình, các em chưa biết hợp tác khi chơi và cũng không chịu tuân theo những quy ước của trò chơi. Đứa trẻ có thể chơi một mình với quả bóng, một mình xây lắp nhà cửa, là mô tô nếu trong trường hợp bị lôi vào một cuộc chơi của trẻ lớn hơn thì các em không bao giờ “chịu thua”. Đối với các em ở lứa tuổi này không có khái niệm “ăn gian” nhưng từ 5-6 tuổi trở lên các em bắt đầu có nhu cầu hợp tác và chịu sự phân công trong khí chơi, từ lứa tuổi này trò chơi bắt đầu mang tính tập thể. Những trò chơi đó tập cho các em phải tuân theo quy ước của cuộc chơi, các em phải công nhận sự “được” “thua” và phải chịu “phạt” khi bị thua, đồng thời phải phục tùng những đứa trẻ cầm đầu. Em nào vi phạm những quy ước đó thì bị coi là “ăn gian” và sẽ bị tập thể loại ra khỏi cuộc chơi. Những quy ước trò chơi truyền thống của trẻ em sẽ cho ta thấy những mối quan hệ sơ khai xa xưa giữa con người. Trò chơi không những tập cho trẻ làm quen với sự khéo léo của tay chân để sau này có thói quen lao động, mà còn là cả một môi trường rèn luyện nhân cách, rèn luyện thể lực, tập cho các em biết cách ứng xử và tham gia hoạt động làm việc với tư cách con người xã hội.


Vũ Minh Huệ sưu tầm và tổng hợp

 

 

 

 

Người đăng tin: Vũ Minh Huệ

 

 

 

 

Tác giả bài viết: Vũ Minh Huệ sưu tầm và tổng hợp

Nguồn tin: Cộng Đồng ViệtLink


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước