TIỂU THUYẾT:VỤ ÁN HAI NGÀN NGÀY OAN TRÁI-1 [Tiểu thuyết]

Thứ tư - 09/09/2015 23:38

“Vụ án hai ngàn ngày oan trái” Tiểu thuyết                                                       ( HÌNH CHỈ CÓ TÍNH MINH HỌA)           1-   Nguyễn Sỹ Lúy con ông Nguyễn Sỹ Hoành ở Tam Hiệp lãnh án 17...

“Vụ án hai ngàn ngày oan trái”

Tiểu thuyết






 

                                                    ( HÌNH CHỈ CÓ TÍNH MINH HỌA) 


 

       1-   Nguyễn Sỹ Lúy con ông Nguyễn Sỹ Hoành ở Tam Hiệp lãnh án 17 năm tù tội giết người.Thụ án 5 năm. Người đời quên từ lâu. Cuộc sống khó khăn, mưu sinh vất vả, lo mình chưa xong. Ai rỗi hơi lo chuyện người khác,vụ án gây xôn xao trong làng ngoài ngõ một dạo ầm ỹ. Người cho là oan. Người nói đã nhận tội, oan trái gì?…“Oan Thị Mầu hay oan Thị Kính ?.. ”

       Có người biết sự thật thở dài ngao ngán, oan trái rõ ràng, không có cách gỡ. Người dân bé cổ thấp họng cãi sao quan tòa mặt sắt. Thời đại con người  bay vào vũ trụ, sự oan uổng vẫn xưa như trái đất. Luật pháp vô tình, “Án tại hồ sơ”. Chứng cứ, lời nhận tội rõ ràng sao cãi. Luật sư lúc đó rất hiếm và theo cơ chế xét xử hiện hành, vẫn hình thức, cốt chiếu lệ có thủ tục, đủ lệ bộ theo luật, có vẻ dân chủ. Mọi việc hội đồng xét xử quyết định. Ý kiến Thẩm phán và Công tố quan trọng. Hội thẩm nhân dân bù nhìn ăn theo nói leo, ngồi đủ ghế, phần đông bảo sao nghe vậy. Họ không nắm luật, trình độ văn hóa thấp. Hội thẩm nhân dân do Chánh án chọn theo gu, theo phe nhóm hay do quan hệ và ý đồ mờ ám?

        Nói khi nghị án, Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau. Nhưng hình thức, chiếu lệ, người ta ấn định rồi, chỉ diễn, theo kịch bản được  duyệt, có việc  phải thông qua cấp ủy địa phương hoặc theo chỉ đạo của ai đó trên trời, có khi  giấy viết tay, một cú điện thoại hoặc truyền đạt miệng,gọi là “Án bỏ túi”.Người dân đa số không biết luật. Không biết số phận được định đoạt sau hậu trường. Họ chưa bao giờ nghe các chức danh và các thuật ngữ ngành tư pháp. Việc  chọn Thẩm phán, Hội thẩm theo luật không bao giờ thực hiện.

      Trong quá trình xét xử vẫn bị ép cung, mớm cung, bị đe dọa, người yếu bóng vía, nhút nhát vãi ra quần. Việc tranh luận ít thực hiện, thường bị chặn họng, có cãi không thay đổi được. Biết đằng nào mà cãi. Không trả lời theo ý quan tòa, họ trợn mắt lớn tiếng quát nạt, phải nhẫn nhục chịu đựng. Người dự xì xào bàn tán bị đe nẹt.

        Quan tòa sức mạnh ghê gớm, lời nói  trọng lượng ngàn cân. Không khí phòng xử án trang nghiêm, quan tòa uy nghi chễm trệ, được bố trí ngồi trên bục cao, ghế cao, tôn thêm vẻ oai phong lẫm liệt, thể hiện không ngang hàng bị cáo và nhân dân dự xét xử. Họ  nhìn từ trên xuống, bị cáo và người dân phải ngước mắt nhìn lên. Người dân vào phòng xử án, thấy không khí trang nghiêm dễ sợ, áp lực tâm lý,  sợ hãi chế ngự họ, tâm lý sợ hãi đè nén họ. Có người không dám thở mạnh, hắt hơi, không may xì ra xú uế có tiếng kêu hoảng hốt như kẻ phạm tội, ngồi ghế bị cáo càng sợ, tim đập chân run, tinh thần biến mất. Thần kinh căng thẳng, hồi hộp lo lắng, bị vặn hỏi  ấp úng, mặt tái mét, bơ phờ. Cổ họng khô đắng.

        Sự hiểu biết pháp luật của người Việt Nam yếu kém trong những năm đầu thành lập chính quyền nhân dân và sau gần nửa thế kỷ xây dựng chế độ mới,  không may va chạm pháp luật rất hoảng sợ. Người nào có chỗ dựa nơi quyền thế hay tiền bạc còn đỡ. Có người lo giảm nhẹ hoặc vô tội, không lo lắng nhưng đứng trước quan tòa vẫn sợ vì không biết thế nào. Nếu không có dây mơ rễ má với chính quyền, không có tiền lo lót, phó thác số phận may rủi như  đánh bạc, ngồi bóc lịch theo án tuyên, hết hạn rồi về. Ấy là không gặp biến động, không bị “đầu gấu” đánh đập hay ốm đau lăn đùng chết. Được trở về với gia đình vợ con, anh em bè bạn, bà con làng xóm, sống nốt quãng đời còn lại trong tủi nhục, mặc cảm thằng tù.

         Tuy trở lại công dân có mọi quyền lợi vẫn phải chịu muôn vàn cay đắng, dư âm những ngày trong tù ngục, bị khinh rẻ, coi thường, sống âm thầm lầm lũi. Cả ngày không ra khỏi nhà. Đi đường bị trẻ con ném đất đá trêu trọc, gọi thằng tù. Khổ cực vô cùng.Người bị oan khuất càng cay đắng, số phận hẩm hiu, không được minh oan đầy đủ, rõ ràng. Được trả lại danh dự, quyền lợi. Những người có chức quyền làm oan người dân trốn tránh trách nhiệm, dửng dưng nhởn nhơ như thường. Không một lời xin lỗi đương sự, người bị đưa vào vòng lao lý tàn khốc. Người dân thế yếu không làm gì được, ngậm ngùi chịu đựng, gặp họ vẫn sợ, mặc cảm từ những năm tháng mất tự do trong tù. Người có chức quyền bao giờ cũng ở thế mạnh. Có ai nói họ đổ cho cơ chế, thời thế do yếu tố khách quan. Có muôn ngàn lý do chối tội, chuyện tranh công đổ lỗi vẫn chuyện “Thường ngày ở huyện”.

      Những người bị oan, không ai biết, tưởng  có tội, án có bao giờ sai?Thói đời khi nghi ngờ người ăn trộm, nhìn họ như kẻ trộm. Một người tù “oan”, vẫn người tù. Không biết thanh minh với ai. Người ta bàn tán bóng gió sau lưng, sao thanh minh. Ai hỏi mà giãi bày, nói  ai nghe, “Miệng kẻ sang có gang có thép ....”. Lời nói kẻ hèn yếu, không ai nghe. Nỗi khổ người tù “oan”  hơn người tù thật,  tù do phạm tội, dám làm dám chịu. Đằng này không làm, phải chịu. sự đời oái oăm.

       Nguyễn Sỹ Lúy tù năm năm. Người ta quên từ lâu, phiên tòa từ hồi nảo hồi nào, quá khứ xa xăm mù tít. Dù người trong cuộc tưởng mới hôm nào, ký ức đau xót khó phai mờ. Dĩ vãng luôn hiển hiện trước mắt, lúc nào cũng nhớ đến. Tâm thần hoảng loạn bất an. Người phạm tội chịu cải tạo chờ ngày ra. Bị “oan” luôn thấp thỏm lo âu. Bao giờ được minh oan, ai lo cho? Chỉ biết kêu cứu “cán bộ”.  Gửi đơn, nhắn nhủ người thân tìm cách lo lót, lạy lục, chạy chọt cửa nọ cửa kia, suốt ngày chờ đợi mong ngóng, tâm trí xáo trộn, lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên.

        Nguyễn Sỹ Lúy sống 5 năm trong tâm trạng đau đớn ê chề. Không biết bên ngoài ra sao. Người thân có lo lắng, “đèn trời”có soi sét? Hai ngàn ngày sau song sắt,những năm tuổi trẻ, sung sức nhất đời người, nhiều ước mơ hoài bão, dự định  tương lai, phải nằm trong tù, cách biệt thế giới bên ngoài. Ngày dài lê thê, đêm trường vô tận, vừng đông đến sớm, hoàng hôn tắt muộn, giấc ngủ ngắn, ác mộng dài, hơi có tiếng động nhẹ giật mình. Mùa đông rét, mùa hè nóng. Cực khổ vô cùng. Năm năm trong tù, Lúy tưởng có tội. Lúy đã giết người bị trừng phạt thích đáng. “Sát nhân giả tử”, thời phong kiến tội chết, chế độ dân chủ nhân đạo, chỉ bị tù là may. Còn có cơ hội nhìn thấy ánh sáng. Kẻ bị giết, vùi sâu dưới đất.Thịt nát xương tan, không nhìn thấy mặt trời, mình còn sướng!

      Có lẽ Lúy cứ yên tâm thụ án cho đến ngày hết hạn. May cải tạo tốt được giảm  vài năm, sau những lần ân xá vào dịp lễ hội, nhưng còn lâu.

Cứ tưởng số phận an bài, cuộc đời đã định, khó đổi thay. Bỗng nhiên  dân trong xã bàn tán xôn xao:

 -   Lúy sắp được tha. Tội phạm là kẻ khác cơ.

    Mọi người than thở:                          
-Làm sao ra nông nỗi, thế bị “oan”, “oan” cũng ngồi tù 5 năm . Bây giờ giải quyết thế nào? Có được đền bù, minh oan. Có công tác trở lại, chế độ quyền lợi 5 năm  giải quyết thế nào? Hay lại phủi tay là xong, vỗ đít đánh toẹt là hết. Những kẻ làm oan người lương thiện thì sao? Có bị xử lý, chắc lại nhắc nhở, rút kinh nghiệm qua loa, lần sau phải cẩn thận. Lần sau khối người lương thiện chết. Phải cho chúng ngồi tù đúng 5 năm như người bị oan, mới công bằng. Làm có chuyện đó, pháp luật áp dụng với người yếu, bao giờ đụng người có quyền. Dám sờ quan chức. Quan tòa càng không. Pháp luật trong tay họ. Quan tòa là luật. Quan tòa không xử quan tòa. Luật sao xử  luật. Thế còn đâu công lý? Chân lý ở đâu? Chân lý thuộc kẻ mạnh, công lý ở phía người có quyền. Cán cân công lý thường bị sai lệch. Luật pháp vô tình với dân đen nhưng có tình với kẻ quyền thế. Từ xưa đã thế, vẫn thế. Và còn thế.

      Nhân loại tốn nhiều máu và nước mắt  giữ cán cân công lý thăng bằng, không bị xê lệch bởi lực lượng vô hình và hữu hình, những thế lực hắc ám lúc ẩn lúc hiện. Nhân danh này nọ, che đậy bởi ngôn từ hoa mỹ, nấp bóng tư tưởng tiến bộ, tích cực, đội ngũ tiên phong của nhân loại cần lao, có khả năng cải tạo thế giới, thay đổi xã hội và thiên nhiên, đem lại hạnh phúc ấm no cho loài người. Bằng “lọ mực” và “khẩu súng”, bằng lực lượng trung  thành đến cuồng tín, mê muội được nuôi dưỡng bởi chút cơm thừa canh cặn của tầng lớp tinh hoa trên đỉnh cao quyền lực đầy mưu mô xảo quyệt, ngày đêm rình rập hất cẳng nhau tranh ghế và giữ ghế, mua bán ghế  có quyền ban phát quyền lợi và bổng lộc cho những kẻ cơ hội đủ màu sắc. Bằng những lời hứa hẹn viển vông, nhưng không bao giờ thực hiện. Bằng những cái bánh vẽ bên ngoài màu sắc rực rỡ, nhưng bên trong thối hoắc, mục ruỗng từ bao giờ. Mọi người phải cố nhắm mắt nhắm mũi thưởng thức, kiểu “Rắm Quan thơm”. Đôi lúc cũng ra ơn kiểu bôi mỡ miệng trẻ con, cho người mù ngắm hoa xem tranh.   

 



 

 

                                                                                                               ***

 

         Đêm 28 tết năm 1983, trời tối đen như mực, mưa lất phất làm ướt nền đường đất trơn như đổ mỡ. Từ mấy hôm trước có mưa. Người dân chuẩn bị đón tết Nguyên đán. Do kinh tế yếu kém, mọi thứ thiếu thốn, từ lương thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng. Các thứ phân phối theo tiêu chuẩn. Nền kinh tế bao cấp không đáp ứng nhu cầu của con người. Để có được cái tết, vui vẻ đầm ấm, nhiều gia đình phải chạy vạy lo toan cả tháng chạp. Dù khó khăn vẫn phải cố lo ba ngày tết. “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày tết”, từ xưa sống trong chế độ nô lệ lầm than còn thế. Giờ đất nước độc lập thống nhất gần một thập kỷ, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống dân chủ, ấm no hạnh phúc lại không lo được còn nói chuyện cao xa, viển vông nhỉ?

                                                         “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

                                                      Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”.

          Đó là tết cổ truyền của người Việt Nam, dù nghèo khổ cũng phải lo. Nhà đông người phải một nồi bánh chưng. Ít người hoặc khó khăn cố dăm ba cái. Để cúng thổ công, hà bá, ông bà ông vải, ông công ông táo, phải xoay sở mọi cách.

           Nhà ông Hoành đông con cháu, một nồi bánh chưng to mới đủ. Nấu xong bánh chưng ông mang trả nồi hàng xóm. Ra khỏi cổng, chiếc nồi đồng to tướng vác trên vai, tay cầm đèn pin soi đường. Ánh đèn vô tình quét ánh sáng vào mặt hai anh em Lưu, Linh đi chơi. Ông Hoành chưa kịp xin lỗi. Lưu chửi tục xông tới đá bay đèn pin trên tay ông. Tiếng nồi đồng rơi xuống đất kêu choang choang rất to. Khi ngã sóng soài,ông vừa la hét vừa gọi các con có người đánh bố.Ba người con trai: Loan, Lúy, Lượng nghe tiếng kêu chạy ra.

      Trời mưa rét mướt, cả nhà nhỏm dậy khi cán bộ công an xã gọi. Mọi người ngơ ngác, hoảng hốt, biết công an huyện về bắt Lúy và ông Hoành “can tội giết người?”.Đúng là tai bay vạ gió. Nhà ông không có tết, không khí nhà đám. Người ra kẻ vào thăm hỏi tò mò nhìn nhau nghi hoặc. Người cho là nhầm lẫn, kẻ dè bỉu, làm gì có chuyện. Giết người phải trò đùa mà nhầm, hay người chết nhầm? Oan gia ngõ hẹp. không ai biết ra sao, làm ăn cả năm, ba ngày tết không yên. Rồi sống ra sao. Danh dự gia đình, công việc làm ăn. Việc học hành của con cháu thế nào? Người nào mặt cũng xanh như đít nhái.Lo lắng thẫn thờ.

          Người có vai vế, trách nhiệm chạy đôn chạy đáo thăm dò khắp nơi gặp gỡ kẻ này người nọ, an ủi con cháu. Mong tai qua nạn khỏi. Các bà các chị  lễ chùa, thờ cúng, cầu trời khấn phật phù hộ, sớm giải nỗi “oan” tày đình bỗng nhiên đổ xuống nhà ông Hoành. Gia đình từ xưa ăn ở nhân đức, làng xóm đều biết, không  ai phạm tội giết người cướp của? Sao bỗng dưng lại…có người tin bố con ông Hoành giết người. Đêm tối ai biết “ma ăn cỗ”. Ai biết họ vẫn đi khuya về tắt, làng xóm không biết. Bây giờ nhiều kẻ đạo đức giả . “Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm…”. Nhiều kẻ mị dân sáo rỗng và bịp bợp, nhiều bọn cơ hội. “Đục nước béo cò”, “Sò trai tranh cãi ngư ông đắc lợi”.

       Kẻ xấu đặt điều, ngày xưa ông cha từng có kẻ giết người, cướp của. Có gien tàn ác. Từng là đạo chích, đào tường khoét ngách. Thời hồng hoang mông muội lắm “kẻ giết người”. Người thì thầm, lúc to lúc nhỏ. Giậu đổ bìm leo, thói đời điên đảo. Miệng lưỡi thế gian, “Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết”, lòng người khó lường. Nhiều người  tránh, không qua  lại với kẻ giết người, xa lánh gia đình có kẻ giết người. “Gần mực thì đen”, người ta sợ lây bệnh giết người. Có người trước đây ca ngợi gia đình ông trong sáng, lương thiện, nhân ái,tưởng thế, ra không phải, mình nhìn lầm người. Lâu nay đi lại với phường gian ác bất nhân, tiểu nhân bỉ ổi. Người ta chụp lên đầu nhà ông Hoành bao nhiêu cái mũ, đội cả đời không hết.

 



 

                               *        *        *

 

     - Mày biết năm nay chú có mấy cái  sướng?

      Ông Hoành nét mặt rạng rỡ, hồng hào hồ hởi hỏi Túy, bạn Nguyễn Sỹ Lúy vẫn đi lại chơi bời như con cháu trong nhà. Không để ai trả lời, ông nói vui vẻ, cười tít mắt, tay xoa cằm vẻ mãn nguyện.

-Này nhé, Lúy giảng dạy trường đại học, mới sinh con gái đầu lòng khỏe mạnh xinh xắn. Thằng Loan anh nó vừa được chuyển về cấp II xã nhà sau mấy năm công tác miền núi, có điều kiện giúp đỡ vợ con. Thằng Lượng dưới Lúy vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự, phục viên khi chính thức đứng trong hàng ngũ của Đảng. Vừa thi đại học điểm chưa báo nhưng nghe nói bài làm tốt, được cộng điểm chắc là trúng. Lại  Đảng viên  được chiếu cố xem xét mấy tiêu chuẩn ưu tiên. Lo gì không đỗ. Hai đứa con gái Thúy, Hiền sắp hết bậc phổ thông đều  học khá rồi sẽ vào đại học, trung cấp ...

      Nhà năm sáu gian gỗ lim, mấy cha con  chặt gỗ, đục đẽo, không mất đồng nào. Sang năm lợp ngói, xây tường xung quanh là ổn. Mấy tạ lợn trong chuồng, vài sào lạc dư sức phải không cháu? Chú Hoành nói cười sảng khoái, mãn nguyện, tay xoa cằm, tự hào gia đình tương lai con cái…là trụ cột, lo lắng sắp đặt quá giỏi, trong lúc kinh tế  khó khăn. Đất nước vừa  ra khỏi cuộc chiến tranh biên giới, bề bộn ngổn ngang thiếu thốn. Gia đình ông  rất tự hào hãnh diện.

       Đã lâu Túy chưa có dịp thăm gia đình ông. Nay nghe Lúy từ trường đại học về ăn tết cùng gia đình. Túy không quản ngại đường xa đến chơi. Nghe chú Hoành nói Lúy vừa sang nhà bạn ,Túy ngồi tiếp chuyện và đợi. Đang nói chuyện, chợt tiếng cười nói rúc rích ngoài cổng, nhìn ra, Lúy khoác tay anh bạn đi vào. Lúy 28 tuổi trẻ quá, trông như ngoài 20. Trắng trẻo, hồng hào, hàng ria lún phún đỏm dáng, tăng vẻ đẹp trai thư sinh nho nhã trí thức. Anh em bè bạn gặp nhau chuyện trên trời dưới biển cả ngày không hết.

 

        Chú Hoành kể, gia đình chú chính quán chợ Bộng, năm 1965 giặc Mỹ ném bom khu lương thực, bao nhà cửa bay hết, nhà chú cũng tan tành. Phúc ba đời, không ai làm sao, kịp rút xuống giao thông hào chạy nhanh ra cánh đồng. Đang lo lấy gì ăn, lấy gì dựng gian nhà tre, chui ra chui vào trú mưa nắng. Cán bộ thương nghiệp huyện về xin người lên vùng núi phát triển nghề nồi đất. Gia đình chú cùng 9 hộ xung phong đi. Ba năm ở mường Hi. Rồi về đất Tam Hiệp từ 1976. Năm có nhiều sự kiện. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, Quốc hội thống nhất hai miền đầu tiên, xác định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của cả nước, đất nước hoàn toàn độc lập, non sông một mối, ước mơ của dân tộc Việt Nam.“Thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Khắp nơi giăng khẩu hiệu phấn đấu đến năm 1980 cả nước đạt 21 triệu tấn lương thực quy thóc. Ai cũng tin tưởng tương lai tươi sáng .Hiện thực cuộc sống không phải lúc nào cũng như mong muốn của con người.

      Đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh khủng khiếp, hậu quả to lớn và nặng nề. Hàng vạn thanh niên trai tráng không trở về. Hàng ngàn gia đình sống trong đau thương tang tóc,mất người thân, ly tán, đổ vỡ tan nát, mâu thuẫn gay gắt, những tư tưởng đối lập nhau khó điều hòa.

      Nhà máy, xí nghiệp, nhà của dân, đất đai, bị tàn phá phải xây dựng lại. Hiểm họa bom mìn rải rác khắp mọi miền Tổ quốc. Hàng vạn nạn nhân chất độc da cam hàng ngày hàng giờ đối chọi với đau thương mất mát, di chứng mấy thế hệ.

      Nhiều chiến sỹ từ mặt trận trở về người đầy thương tích, không còn sức lao động, giải quyết những hậu quả chiến tranh không phải một sớm một chiều.Tư tưởng nóng vội, “Đốt cháy giai đoạn” của những người lạc quan tếu, bất chấp quy luật,cùng những bệnh “Ấu trĩ tả khuynh”, hẹp hòi, thiển cận, dốt nát,bệnh mù màu, chỉ nhìn thấy một màu gây bao tai họa cho con người,cho sự đoàn kết và phát triển,với con mắt nhìn gà hóa quốc, nhìn đâu cũng thấy địch, áp dụng chuyên chính cứng nhắc, đấu tranh giai cấp tràn lan, không khí ngột ngạt bao trùm xã hội,gây cảnh hoảng loạn, khiến một bộ phận nhân dân mất lòng tin vào chế độ, từ bỏ đất nước ra đi gây xáo trộn không đáng có, làm xấu hình ảnh đất nước trong con mắt thế giới, dẫn tới bị bao vây cấm vận, đẩy đất nước vào cảnh vô cùng khó khăn thiếu thốn. Nhiều ngành nghề bị đình trệ do  thiếu vốn, vật tư, nguyên liệu, máy móc không thiết bị thay thế, dây truyền công nghệ cũ kỹ lạc hậu, hàng hóa đơn điệu giá thành cao.Làm ăn thua lỗ do cơ chế quản lý yếu kém, trình độ chuyên môn nghiệp vụ thấp, không phát huy tính tích cực chủ động của người lao động. Bệnh ghen ghét đố kỵ, không tạo điều kiện cho người tài phát huy khả năng sáng kiến kinh nghiệm. Tư tưởng địa phương, cục bộ, tiểu nông, manh mún gây ra cấm chợ ngăn sông, hàng hóa không lưu thông, nơi thừa nơi thiếu.Dân chúng cực khổ vô cùng.

      Người dân hy vọng đất nước hòa bình thống nhất ấm no hạnh phúc. Nhưng  khó khăn hơn lúc chiến tranh ác liệt. Hòa bình không thể hô khẩu hiệu suông, kích động lòng tự hào dân tộc, hy sinh cho tổ quốc. “Có thực mới vực được đạo”.

      Tư tưởng công thần, địa vị, hưởng thụ, tự hào có công lao thành tích chưa chắc của mình, do thủ đoạn xảo trá, biết lợi dụng đám đông, trèo lên cổ người khác tiến lên. Khai man, lập hồ sơ chứng cứ giả, mạo nhận, bịp bợm…

       Gia đình chú Hoành được xếp vào đội vận chuyển xe trâu cửa hàng bách hóa huyện. “Đi tát sắm gầu, đi câu sắm giỏ”. Làm nghề nào có dụng cụ ấy. Chú chắt chiu mua cặp xe trâu. Được cấp sổ gạo,một thời gian sau cửa hàng làm ăn thua lỗ, do cơ chế quan liêu bao cấp, tham ô, trộm cắp, người ăn theo nhiều. Bà Cửa hàng trưởng hủ hóa với tay Thủ kho kém gần chục tuổi, cùng nhau tuồn hàng cho con buôn  chợ đen kiếm lời. Lấy tiền vui thú ăn chơi thác loạn suốt đêm, bị bảo vệ bắt, chuyện đánh ghen tùm lum ầm ĩ, náo loạn thị trấn.

        Đánh nhau chuyện chia chác không đều. Bà Cửa hàng trưởng chỉ mặt vợ Thủ kho: “Chồng mày núp váy bà mới được thế”. Cô ta không kém: “ Già ngoách rồi còn làm đĩ, sao không nằm ngửa cho chó nó phét lại lôi kéo chồng tao? Chúng bay xà xẻo của dân, hú hí với nhau,  nó có mang tí cứt dính đít về nhà. Đôi bên xỉa xói trước cửa hàng, giữa ban ngày, người đi đường bu lại như xem hội, công an huyện phải dẹp. Chuyện tham ô móc ngoặc trong bóng tối, được lôi ra ánh sáng cho bàn dân thiên hạ biết.

       Nhiều người lắc đầu: Trả trách bao nhiêu hàng hóa chúng tuồn ra chợ đen hết. Người dân hỏi mấy con mụ bán hàng ngồi vênh mặt, vắt chân chữ ngũ, chỏng lỏn: Hết hàng. Nhiều hôm nghe có hàng, người đua chen xếp rồng rắn chờ may rủi. Nhưng chỉ mấy người có diễm phúc mua được, ai nấy tiu nghỉu ra về, chửi đổng, mẹ cha chúng nó. Toàn một lũ khốn nạn, quân ăn cắp, mất thời giờ của bà con làng nước, mất công vô ích, chả tích sự gì? Chửi rủa chán vỗ đít ra về, có nằm vạ không mua được. Hàng hóa mua bằng tem phiếu cũng phải xếp cả ngày, có người xếp từ sáng sớm đến trưa mua cân thịt, cả nhà sắp mâm bát chờ, mong tí mỡ dính môi, đành nuốt cơm rau. Mua gạo phải đi từ nửa đêm gà gáy, người bận lấy hòn gạch, bao tải xếp, nhờ người xung quanh trông hộ.

        Chuyện tham ô, xỉa xói, đánh ghen, mất uy tín ngành thương nghiệp huyện. Cấp trên xử lý kỷ luật cảnh cáo chuyển đi nơi khác. Nghe nói bà Cửa hàng trưởng còn lên chức Phó phòng thương nghiệp một huyện. Cửa hàng sắp xếp lại nhân sự, tổ vận chuyển giải tán. Chú Hoành mất sổ gạo. Chú phải làm thuê kiếm ăn. Cũng may gặp thời kỳ xây dựng nhiều, nhà máy xí nghiệp, trường học, bệnh viện  xuống cấp, phải sửa chữa xây dựng lại. Quan chức, tư thương xây nhà. Công việc nhiều, việc vận chuyển liên tục. Chú làm không hết việc, thu nhập cũng khá.

        Loan, Lúy học cấp III, Lượng Thúy Cấp II, Hiền cấp I, cả nhà đi học. Mình chú lo toan mọi việc. Bà ấy ở nhà lợn gà, cơm nước, chợ búa cho chúng nó. Chú bỏ quê hương ra đi, không làm giàu, lo các em học hành đến nơi đến chốn, mong sau này thành tài, có nghề nghiệp. Không phải lao động cực nhọc,đời cha  khổ mong con cái sung sướng, “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, “Con cái là của để dành”…

 

 

      Hôm ấy 25 tết tức ngày 7/2/1983.Túy ra về, mừng cho gia đình chú Hoành ngày càng khấm khá, nhất là Lúy người bạn thân suốt mấy năm phổ thông như anh em ruột thịt, có địa vị xứng đáng.Nỗi mừng chưa kịp hân hoan, bỗng ba ngày sau, 28 tết, Túy nghe dân xã Tam Hiệp và Nghĩa Xương kháo nhau : Có kẻ ném lựu đạn vào nhà ông Hoành,  người chết hay bị thương, máu chảy lênh láng thành vũng ven đường.

 30 tết, Túy lên xem thực hư, gặp công an huyện làm việc với gia đình chú Hoành. Hỏi thăm, người nhà kể vào khoảng 8h tối cả nhà vừa ăn cơm xong, ngồi nghe đài, ông Hoành mang nồi nấu bánh chưng trả hàng xóm. Sau đó mấy phút nghe ông kêu: “Có người đánh bố”, mấy người con trai chạy ra. Loan rút cây gậy chống rèm chạy lên phía trên, (nơi có tiếng cha kêu cứu). Lúy vớ  con dao nhọn hình lá lúa chạy theo. Sau có Lượng đi tay không.

        Một lúc sau tiếng lựu đạn phía cổng. Nghe tiếng nổ, Lúy chạy về nhà, gặp dân làng tới tìm kẻ gây ra. Gặp Lượng đứng đó, Lúy đưa dao cho Lượng, định vào  tìm dao khác, có người tìm thấy cái mỏ vịt lựu đạn. Tiếng nổ do người ném lựu đạn vào nhà ông Hoành. Gia đình ông mời chính quyền xã tới lập biên bản mãi 11h khuya mới xong.

         Sáng hôm sau, gia đình ông biết lúc 12h đêm có hai người (một người bị thương nặng) xin nhờ ô tô đến bệnh viện cấp cứu. Mấy con ông Hoành xuống chỗ hai người xin  xe lúc đêm, phát hiện có một vũng máu ở lề đường.Túy hỏi, gia đình ông Hoành cho biết: Khi các con ông chạy ra, không gặp ai, chỉ thấy bố nằm sóng soài dưới đất, họ đỡ bố vào nhà rồi cầm gậy chạy đi…

         Ông Hoành kể, khi ông ra khỏi ngõ, gặp một thanh niên đi ngược lại, mấy bước gặp người nữa, ông vô tình quét đèn pin vào mặt anh ta. Chưa kịp nói, người kia chửi, sấn tới đá văng đèn pin làm ông ngã lăn do đường trơn. Ông kêu cứu, họ chạy đi, các con ông chạy ra, họ đi xa rồi…

Túy làm ở tòa báo tỉnh muốn đưa tin tìm hiểu kỹ, hỏi :

- Chú có biết hai người ?

- Chú chưa gặp, vì trời tối đen như mực. Khi chú quét đèn pin vào  người đi trước, chưa nhìn rõ mặt, bị anh ta đá văng đèn, ngã lăn quay …

    Chú Hoành lục túi đưa Túy tờ giấy có chữ viết tay: Tôi là Nguyễn Văn Tụ, thượng úy  phòng D5 M442 xin xe nhờ từ Yên Mỹ lên Quỳ Hợp, về đến đầu cầu làng Mủng, bất chợt có người ra xin xe vội vã lúc 12h đêm. Vẻ hốt hoảng, tay kia chìa tờ giấy bạc 100 đồng (tiền cũ). Lái xe dừng  cho đi. Người xin xe vào  bụi cây  một lúc không thấy gì. Sang bụi thứ hai cách bẩy tám bước, lôi một người bị thương, đưa lên xe. Tôi hỏi  sao thế?

    Người xin xe nói:

    -Nạn nhân bị đâm.

     Túy thẫn thờ đưa trả chú Hoành tờ giấy im lặng suy nghĩ, lo lắng điều chẳng lành sắp đến với gia đình chú. Gia đình chú Hoành, chỉ Lúy cầm dao chạy ra, đâm phải người ta, nói quanh giấu giếm. Nếu vậy nguy rồi Lúy ơi. Làm sao thoát tội?Khổ thân chú Hoành, cả nhà sum họp vui vẻ. Bỗng  xảy ra án mạng. Không biết sự thể  ra sao?Sự lo lắng của Túy đến sớm hơn anh tưởng.

       Sáng ngày 20/3/1983, tức mồng bảy tết âm, trời rét buốt, cơn gió heo may tê tái lòng người, mưa phùn ẩm ướt, đường đất nhão nhoét trơn tuột. Một ô tô tải tới ngõ ông Hoành phanh kít lại, tiếng rên siết, bánh xe kéo một vệt dài. Từ xe ba công an huyện mặc sắc phục, cùng  công an xã Tam Hiệp mặc thường phục, chỉnh tề, súng ống bóng loáng, cả nhà hoảng hốt lo lắng, chú Hoành được gọi về. Họ đọc lệnh bắt người, yêu cầu chú ký. Lúc đầu chú không ký : “Gia đình tôi không giết người”. Nhưng lệnh quan sao cãi.

       Anh công an giải thích mới  nghi can, tạm giam điều tra, không có tội sẽ được tha. Gia đình ông phải chấp hành, chúng tôi  thi hành công vụ.

Bốn bố con được đưa tạm giam, mỗi người một buồng để không trao đổi và thông cung. Lúc đầu ông Hoành tự tin cứng cỏi, không giết người sợ gì? Trước sau sẽ được minh oan: “Cây ngay không sợ chết đứng ”.Chú không biết sự đời không đơn giản, chú chưa va chạm, các con ít tuổi.                 Người dân muốn được minh oan, không dễ, xưa nay dân đen bị bắt, có tội hết, không ít thì nhiều, không nặng thì nhẹ, không tội nọ thì tội kia. Từ không thành có, việc bé xé ra to, chẳng khó đối với những kẻ quan liêu vô trách nhiệm, ngu dốt, lợi dụng chức quyền. Biến ngay thành gian. Sống chết mặc bay,coi mạng người như cỏ rác.

        Nếu có sự đồng lõa của tiền tài và quyền lực càng nghiêm trọng. Có thể đổi trắng thay đen, như nắm vật trong lòng bàn tay. Như ngày xưa Lý trưởng bắt rượu lậu. Thù oán ai, muốn trị tội, cho người chôn rượu lậu trong vườn, báo quan Tây về bắt. Chứng cứ rõ ràng cãi sao nổi. Ngày nay có kẻ từng áp dụng để thanh trừng đấu đá nhau. Họ không dùng rượu mà nhiều thứ khác tinh vi hơn, nghiêm trọng hơn. Bọn buôn ma túy từng sử dụng, chúng bán rồi cho người báo công an  người vận chuyển ma túy, chơi xỏ thế mới ác.

        Chú Hoành là người lao động thật thà, không biết sự lắt léo của pháp luật, lòng người, thói đời, cứ tưởng người cầm cán cân công lý  thiết diện vô tư. Công bằng chính trực. Biết sao lòng người tráo trở. Có khi tự ái sĩ diện cá nhân. Chót bắt người vô tội, vầy cho tý bùn, để khỏi mang tiếng, bị phê bình, kỷ luật.Dùng họ làm vật tế thần, để tiến thân trên con đường danh lợi, quyền lực, mưu cầu hạnh phúc cá nhân, sống trên lưng đồng loại…

        Có khi động cơ đen tối, nói dối như cuội. Và thể hiện có quyền lực, tỏ cho người dân biết ta đây có quyền hành chớ coi thường. Không ai dễ bắt nạt hơn dân đen thật thà ngay thẳng.

         Có chuyện hai kẻ đấu đá nhau, muốn hạ bệ nhau. Gọi người thừa hành đến bàn bạc nghĩ cách. Người thừa hành thật thà gãi đầu gãi tai không biết làm thế nào  có chứng cứ .Ông này rỉ tai thì thầm nói không nhớ ngày xưa cánh hào lý bắt rượu lậu. Bây giờ nhiều thứ lậu lắm. Kẻ thừa hành nghĩ ngợi một lúc, gật gù, thế mà  không nghĩ ra, thủ trưởng tài thật, muốn chứng cứ buộc một người có tội, khó gì. Nếu nắm quyền lực trong tay. Vì thế rất nhiều “oan” sai xảy ra, người ta không hiểu sao lại thế. Nhưng nhiều khi, “Gậy ông đập lưng ông”, ‘‘Ác giả ác báo’’. Có thể không ai nhìn thấy: “Nhưng trời biết, đất biết, anh biết, tôi biết, sao lại bảo không ai biết?...”, “Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt”. Khi vụ việc không có nhân chứng, vật chứng người ta tạo ra, thiếu gì cách.


 


***      

      Lần hỏi cung thứ nhất, ông Hoành trước sau khai sự việc xảy ra. Cán bộ hỏi cung đáng tuổi con ông tức giận, xách tai tát vào mặt ông mắng:

-Tội con ông giết người rõ ràng còn ngoan cố.

       Ông cắn răng chịu nhục thầm nghĩ: Mày đáng tuổi con tao mà láo. Luật nào cho phép đánh người, sỉ nhục nghi can? Nhà nước dân chủ nhân dân nào cho phép? Nghĩ vậy, ông cố nhẫn nhịn chịu đựng, vì chưa biết sự  thể ra sao.

       Quyền trong tay họ. Sau này được tha tố cáo chưa muộn, chắc còn nhiều người tốt. Không phải ai cũng xấu như anh cán bộ này. Ba tuổi ranh hống hách. Hắn mới chỉ là cán bộ điều tra hạng bét. Nếu có chức tước lớn thì trịch thượng đến đâu. Sao lại có thể áp đặt tội cho người dân trắng trợn thế? Sự việc còn đang điều tra xem xét. Chỉ trong phiên tòa, hội đồng xét xử mới có quyền khẳng định người dân có tội, sau khi xem xét mọi khả năng có thể, phải nghị án, rồi mới tuyên án. Sau khi án tuyên, người dân mới bị coi có tội. Người ta có quyền kháng án. Án “phúc thẩm” mới có hiệu lực. Cán bộ điều tra sao khẳng định con ông phạm tội giết người, rõ ràng võ đoán. Mọi nghi can rơi vào tay anh ta thành tội phạm hết, cứ bị bắt giam là có tội. Luật nào quy định vậy? Ông Hoành tuy nông dân  qua mấy chế độ, sống ngần này tuổi, va chạm ít nhiều trong cuộc mưu sinh mấy chục năm, cứ suy luận từ cuộc sống thực tiễn diễn ra hàng ngày biết được ít nhiều, bản chất thông minh lanh lợi, phân biệt được đúng sai.

        Người cán bộ hỏi cung, nếu không dốt nát, thì loại gian trá, quan liêu hống hách, cửa quyền. Loại sâu mọt đục khoét xã hội, muốn làm cha mẹ dân, không may rơi vào tay hắn. Nếu không phải con trai đang bị giam giữ, ông sẽ nhổ vào mặt anh ta, muốn ra sao cũng được, ông già rồi có chết cũng được. Bị sỉ nhục thà chết cho xong. “Chết vinh còn hơn sống nhục”. Nhưng nghĩ còn ráng sống làm sáng tỏ oan ức của gia đình. Ông phải nhẫn nhục chịu đựng thằng nhãi ranh này.

       Ông đáng tuổi bố nó, mà nó láo, dám xách tai  tát ông. Mối nhục này phải trả. Ông chiếu ánh mắt dữ tợn, tay cán bộ điều tra cúi đầu, tránh ánh mắt cương nghị, trung thực của ông. Có thể anh ta nhất thời hành động thiếu suy nghĩ, anh ta ân hận vì hành động sai trái quá trớn, đỏ mặt rồi tái xanh, mắt cúp xuống lảng tránh ánh mắt ông.Từ thuở cha sinh, mẹ đẻ, trải mấy triều đại, từ  Pháp thuộc, Nhật chiếm đóng, chính quyền dân chủ nhân dân, ông chưa bị chửi mắng.

           Cán bộ điều tra nhìn cặp mắt nẩy lửa của ông, cũng chờn, không dám vặn vẹo. Cuộc hỏi cung kết thúc không thu được kết  quả như anh ta mong đợi. Đến ngày 21 tháng giêng, họ đưa ông đi trại tạm giam Nghi Sơn, con trai Nguyễn Sỹ Lúy cũng bị giải đến đó trước một ngày.

        Cứ hai ngày ông Hoành được gọi lên hỏi cung. Lần này cán bộ điều tra là ông Đỗ Quang Lịch người dỏng cao, mặt rỗ, trán dô, tuổi dưới bốn mươi, giọng oang oang, trầm đục ông ta hỏi:

-Ông Hoành, sao ông vẫn khăng khăng không khai tội của con?

Ông Hoành hỏi lại:

- Ông muốn  gia đình tôi có tội gì?

Nhìn vẻ mặt ông Hoành, Lịch nghĩ phải dùng đòn phủ đầu mới ăn thua, đập bàn, quắc mắt:

- Tội giết Bùi Văn Linh em trai Bùi Văn Lưu ở Nghĩa Xương.

    Ông Hoành đặt hai bàn tay lên bàn nhìn thẳng mặt Lịch :

- Nếu các ông biết con tôi giết người cớ gì hỏi mãi, đây hỏi cung hay áp đặt nhận tội?

   Lịch vẫn sừng sộ mặt đỏ rần, mắt lồi ra, nốt rỗ co lại:

- Chúng tôi muốn ông thành khẩn để được khoan hồng.

    Ông Hoành với cặp mắt thâm quầng mệt mỏi do thiếu ngủ nói nhẹ nhàng rất sắc:

- Xin lỗi, gia đình tôi không giết người các ông còn giam giữ áp đặt, hành hạ ép cung. Nếu giết người chắc bị kìm kẹp, rút lưỡi, đốt ngón tay chân như bọn Mỹ Ngụy tra khảo người cách mạng bị giam giữ?

    Nghe thế Lịch trợn mắt, phồng má, những nốt rỗ trên mặt sâu hoắm, đỏ lựng:

- Ông nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ, chống người thi hành công vụ. So sánh cán bộ chính quyền nhân dân với bọn ác ôn ? Tội bôi nhọ vu cáo không nhẹ hơn tội giết người nhé, ông liệu ăn nói thận trọng, không có ngày khốn. Ông không  khai tức thêm tội che giấu, xem ông gan lì mức nào? Ông ăn gan hùm, hay gan sói mà lỳ vậy, ông không qua mặt chúng tôi nhé. Tội chống chính quyền dân chủ nhân dân rất nặng. Còn hơn tội giết người của con ông. Nếu ông khai, chúng tôi nể tuổi gìa  lẫn cẫn của ông, bỏ qua các tội trên, may  sớm được thả, ông thi gan với nhà nước không xong nhé. Nhà nước không có cơm nuôi ông thi gan với chính quyền nhé. Ông mau khai, đỡ tốn cơm của dân, đỡ mất thì giờ của chúng tôi. Thời gian của chúng tôi là vàng ngọc, chúng tôi còn nhiều việc quan trọng hơn ngồi nghe ông nói nhăng nói cuội. Ông phải trả lời vào câu hỏi của tôi, không được nói lảng ra ngoài vụ án…

- Nhưng con tôi không giết người, khai thế nào?

Lịch đập bàn quát:

- Không giết sao có người chết, người ta tự chết, lại chết trước cửa nhà ông? Ông soi đèn pin vào mặt người ta, họ đá ông, ông gọi các con ra. Con ông đứa cầm dao, đứa cầm gậy, không đánh người, làm gì? Đánh chó chắc, hay ban đêm rủ nhau ra đường múa gậy múa dao chơi? Con ông cầm dao đuổi, người ta bị đâm chết,không con ông thì ai giết? Không lẽ họ tự chết.  Sự việc rõ rành rành, còn chối bay, chối biến, trốn tránh tội lỗi.

- Hễ cầm dao là giết người a? Ở đâu có lý sự vậy? Tôi lạ quá, tôi thấy lý luận của cán bộ kỳ khôi qúa. Có người chết là đổ tội cho ai đó cầm dao giết. Cái lý nào vậy? Có người chết do súng, đổ tội cho người có súng a.  Các ông mới có súng, lẽ nào như vậy?

- Ông lý sự cùn với chúng tôi hả? Con ông cầm dao đuổi đâm người ta bị thương máu chảy thành vũng bên đường, họ cố lê vào bụi rậm trốn, được đưa đi cấp cứu, do mất máu nhiều đến bệnh viện thì chết, trẻ con cũng hiểu, ông còn cãi trốn tránh tội ác. Nếu bố con ông không cầm dao ra, ai đổ tội được. Chúng tôi vu oan sao được, chúng tôi được nhà nước nhân dân giao nhiệm vụ giữ gìn trật tự xã hội, giữ gìn an ninh thôn xóm trong đó có gia đình ông. Chúng tôi trừng trị  kẻ có tội đảm bảo sự nghiêm minh của luật pháp. Chúng tôi không thù oán  gia đình ông. Vu oan cho gia đình ông làm gì? Chúng tôi được lợi gì? Ông khai nhận giúp chúng tôi nhanh chóng phá án, khép vụ án lại, báo cáo cấp trên, còn nhiều vụ án khác. Vụ việc gia đình ông mất công sức  bao nhiêu người, bao tiền bạc  nhà nước. Ông nghĩ chúng tôi uống nước lã đi làm án, ăn cơm vợ đi làm án.

      Nghe lý sự của ông Lịch, ông Hoành thấy đuối lý, im lặng thẫn thờ, ngẫm nghĩ: Lúy giết người thật sao? Lúy giết người, con dao phải dính máu, quần áo  phải bị máu bắn vào. Đằng này con dao nó cầm vẫn dính bụi đất, quần áo sạch sẽ không dính tý máu nào. Ông băn khoăn không hiểu ra sao, dù Lúy có lỡ tay đâm chết người, ông không chứng kiến sao bắt ông khai nhận. Rõ vô lý. Có điều gì ẩn khuất, họ định gỡ tội cho ai. Hay con ông cháu cha. Hay kẻ lắm tiền giết người, họ dùng con ông giải thoát tội kẻ kia, họ ép ông khai nhận để kẻ kia trắng án. Ông suy nghĩ mãi không biết thế nào? Con ông phải thế mạng cho kẻ có máu mặt nào chăng. Ông không hiểu lòng người đen tối thế. Luật pháp lắt léo thế. Ông biết có trường hợp người thân nhận tội thay nhau. Do ruột thịt mới thế, người dưng nước lã, sao phải thế. Hoặc ai chịu ơn sâu nặng kẻ giết người  phải thế mạng trả ơn. Nhưng luật quy định ai có tội phải chịu, không thể thay thế. Cha con, anh em ruột thịt cũng thế, ai phạm tội phải bị trừng trị, không ai thay được.

     Cứ thế, hai ba ngày ông Hoành được gọi khai tội giết người của con trai,lúc nhỏ nhẹ dụ dỗ, lúc quát tháo tra tấn, dùng cực hình, hứa hẹn, vừa đấm vừa xoa, hết trò này trò khác, ông chết đi sống lại, mặt mũi tím bầm, họ túm tóc ông tát vào má vào mặt chảy máu mũi, đấm đá vào bụng, kê ghế lên ngón chân ông, ngồi lên trên, ông đau quá ngất đi, vẫn câu hỏi như thế.Ông vẫn nói như mọi lần. Ông không tin con giết người.

      Đôi lúc băn khoăn nghi ngờ, nhưng bằng trực giác ông biết nó không giết người. Lúc con ông chạy ra, hai người kia chạy khá xa. Chúng không gặp, làm sao  giết được? Ai giết Linh nhỉ, vì sao?

      Con ông từ nhỏ con gà chưa biết cắt tiết sao dám giết người,ông thấy họ làm việc không ổn. Rất quan liêu cửa quyền, vô trách nhiệm, cưỡng bức đe dọa, gài bẫy người dân, ép cung, mớm cung, dùng nhục hình, ông biết họ vi phạm pháp luật nhưng không biết kêu ai, đành nhẫn nhục chịu đựng.

 

                                                                                                  *        *        *

     Một lần mẹ Lúy đến thăm báo tin cha đã xuống trại Nghi Sơn. Lúy nhờ bạn tù đứng trên vai gọi qua lỗ thông hơi:

- Có cha Hoành ở Tam Hiệp ?

     Nhận ra con, ông Hoành trả lời:

- Cha xuống rồi, con có khỏe ? Lúy ơi!

    Nghe giọng  chua xót, Lúy xúc động khóc, suýt tuột khỏi vai bạn tù run rẩy vì sức nặng của Lúy đè lên đôi vai gầy. Lúy nói trong nước mắt rơi lã chã.

- Cha ơi! Con phải nhận tội để cha ra tù, nếu không họ hành hạ cha chết. Ông trời không có mắt để cha con ta mắc vòng lao lý. Con phải học nàng Kiều bán mình cho quỷ dữ cứu cha, con đau lòng lắm. Công  nuôi ăn học, con chưa báo hiếu, lại đẩy cha già vào cảnh lao tù. Cha chịu sao nổi cuộc sống trong này. Cả đời vất vả lo chúng con thành người, lúc già lại mắc tai bay vạ gió. Giá lúc đó con tỉnh táo, bình tĩnh suy xét, cha không  rơi vào cảnh này. Chúng con trẻ, có sức khỏe, chịu được. Cha lao lực vất vả suốt đời, sao chịu nổi, con ngàn lần lạy cha, xin lỗi cha, vì nông cạn đẩy cha vào địa ngục. Tội con đáng chết. Cho con nhận tội để họ thả cha. Họ chỉ muốn thế. Vừa giúp cha, giúp họ tọai nguyện. Thân con có sá gì, do cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng khôn lớn thành người,  hy sinh một mình con, cứu cha, cứu cả nhà cũng đáng. Cha cho phép con nhận tội nhé. Dù con không giết người. Con biết việc đó làm ô danh gia đình, dòng họ, con thương cha, không chịu được sự hành hạ tra khảo.

Nghe con nói lòng ông đau như cắt, cố đứng dậy, bị nhức nhối ở đầu gối, lần đến sát tường mếu máo, cương quyết:

- Chớ… chớ nhận con ơi….cha chết cũng được, cha già rồi, không sống  bao nhiêu, chết ngay không hối hận.

     Con trẻ, cuộc đời dài, tương lai phía trước. Mình không giết người, nhận nhục muôn đời, con quyết không được nhận: Nhận mắc mưu họ, cha tin có ngày chân lý sẽ sáng tỏ. Nhà nước và nhân dân không để ai bị oan ức. Còn nhiều người tốt, công bằng chính trực. Cha sống mấy chế độ cha biết. Con gắng chịu, tin ở chính quyền đoàn thể, tin ở tương lai. Đây chỉ là sự hiểu lầm cố chấp của một số kẻ dốt nát, vô trách nhiệm, lợi dụng, họ muốn nhanh chóng kết thúc vụ án để có thành tích, cố ép cho xong việc. Cha con ta kiên trì đấu tranh, chân lý sẽ thắng. Cây ngay không sợ chết đứng. Con không phải lo cha. Cha khổ quen rồi. Thế này có sá gì? Nằm trong này như nghỉ mát.Cha bươn chải ngoài đời kiếm ăn cực nhọc, con không biết  nạn đói năm Ất Dậu, cực nhục thế nào? Cha mười lăm tuổi. Đang tuổi ăn tuổi lớn  nhịn đói mấy ngày, tưởng không qua nổi. Trong làng người chết như ngả rạ. Trông toàn những bộ xương khoác mớ rẻ rách tả tơi, khủng khiếp, nhờ cách mạng về, cha  sống sót, sinh  các con, nuôi các con khôn lớn. Cha biết ơn cách mạng, năm nay cha 53 tuổi, cái hạn sẽ qua thôi. Con đừng lo lắng nghĩ quẩn, giữ vững tinh thần. Có ngày chúng ta được minh oan, khỏi vòng lao lý, vận hạn sẽ qua.

     Người bạn tù do sức yếu hay do cuộc đối thoại giữa hai cha con xúc động, anh ta từ từ khụy xuống thềm nhà ngất lịm.

Bên kia tường, ông Hoành vẫn gọi con tha thiết:

- Lúy ơi, Lúy đâu rồi con ơi!

Cuộc gặp gỡ đối thoại  hai cha con ông Hoành lọt tai cán bộ. Ông bị gọi lên hạch sách, đe nẹt:

- Con ông nhận tội, sao lại xúi không nhận, chống chính quyền. Chống lại pháp luật, chống người thi hành công vụ. Ông có biết làm thế, tội của ông càng nặng? Nhẹ không thích cứ ưa nặng, già còn ngu bỏ mẹ. Được sớm ra tù không thích, thích ở tù, sao ngu vậy? “Ngu lâu khó đào tạo”…nó gánh tội để ông sướng cái thân. Nó trai trẻ ở tù mấy năm rồi ra. Còn ông, nếu ngồi tù mục xương, về được với vợ con, sướng không muốn lại thích khổ, rõ lão già, thân lừa ưa nặng.

Ông Hoành nghe nói, tức lộn ruột, nhưng phải thẽ thọt:
 -Làm cha  lo sướng thân, đẩy con vào vòng lao lý. Các ông có thể,cha mẹ các ông có thể,có còn đạo lý? Con tôi không có tội sao phải nhận, tôi chỉ khuyên, không có tội  không nhận, tự nhiên khoác tội giết người sao được? Cái thân già này  chết trong tù, quyết không để con oan ức. Tôi sẽ đấu tranh đến cùng.

- Sợ ông không có sức đấu tranh, đến lúc được thì xương ông mục thành đất. Chúng tôi  muốn tốt cho ông, thương ông già, trụ cột gia đình, không muốn thì thôi. Xem ông tài giỏi thế nào, mình chống chọi thế nào, định chống bộ máy công quyền sao? Ông có sức của “Ngu Công dời núi”, hay “Nữ Oa vá trời”? Hay “Châu chấu đá xe”? Cứ nằm ở đây mà suy nghĩ sự đời, sự đời như cái lá đa.

Đối chọi với họ không đi đến đâu. Ông Hoành không nói, trong lúc cán bộ cứ lải nhải thuyết giáo. Sau lần đó, họ đưa ông về buồng giam, xiềng hai chân, bỏ đói khát để không có cơ hội đi gọi con. Để nếm mùi, vì sự ngoan cố.

                              

                               *        *        *

                (CÒN NỮA)

Người đăng tin: Lê Văn Thọ

Tác giả bài viết: LÊ VĂN THỌ HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước