TIỂU THUYẾT:DƯỚI CHÂN TƯỢNG ĐÀI-III [Tiểu thuyết]

Thứ tư - 28/10/2015 06:03

  5- Tôi theo đơn vị  nhận lệnh lên đường truy kích tàn quân Pon Pot ẩn náu tại thượng nguồn sông La Lay cách Ven Sai 15 km và đưa nhân dân lẩn trốn trong rừng, trên những đỉnh núi cao của vùng Bắc Ven Sai giáp biên giới Campuchia và Là...

 

5- Tôi theo đơn vị  nhận lệnh lên đường truy kích tàn quân Pon Pot ẩn náu tại thượng nguồn sông La Lay cách Ven Sai 15 km và đưa nhân dân lẩn trốn trong rừng, trên những đỉnh núi cao của vùng Bắc Ven Sai giáp biên giới Campuchia và Lào trở về bản làng làm ăn sinh sống. Do chuẩn bị đầy đủ, trinh sát nắm vững địa bàn, đơn vị tôi bí mật tiếp cận mục tiêu, bất ngờ tiến công địch khiến chúng không kịp phản ứng, bị tiêu diệt tại trận, một số bỏ chạy vào rừng sâu, lẩn trốn trên những ngọn núi hiểm trở.

          Tiếng súng vừa yên, chúng tôi phát hiện tiếng khóc của trẻ con vọng lại từ trại của bọn lính Pon Pot; tiếng khóc yếu ớt của đứa bé nằm thoi thóp trên sạp nứa, giữa đống chăn màn cáu bẩn.

Anh em chạy đến định bế đứa bé thì có người bị thương do dính mìn K58 bọn chúng gài lại.

          Chúng tôi báo cáo lên Đảng ủy tiểu đoàn việc phát hiện đứa trẻ sơ sinh trong trại lính Pon Pot. Một cuộc hội ý chớp nhoáng của cấp ủy ngay mặt trận, Đảng ủy hạ quyết tâm phải cứu cháu bé, đưa về hậu phương giao cho đội công tác đặc biệt của Mặt trận Dân tộc Đoàn kết cứu nước Campuchia.

          Một phương án được đưa ra và cuộc chiến cứu cháu bé diễn ra trong sự hồi hộp, căng thẳng của toàn đơn vị.

          Chúng tôi chưa gặp tình huống nào như vậy, trên khuôn mặt đen sạm nắng gió và bụi đất của những người lính lấm tấm những giọt mồ hôi, thấm ướt lưng áo, lo lắng hồi hộp xúc động, con tim như ngừng đập, hơi thở nén sâu…

Mọi người đều hiểu chỉ một sơ xuất nhỏ, hậu quả xảy ra, không những cháu bé thương vong mà đơn vị cũng tổn thất.

Sau hai giờ tác nghiệp trong căng thẳng, với động tác tỉ mỷ chuẩn xác chúng tôi đưa được cháu bé ra ngoài an toàn trong tiếng thở phào nhẹ nhõm của toàn đơn vị.

          Trên khuôn mặt lem nhem bụi đất lẫn mồ hôi chảy ra loang lổ của những người lính dãn ra, sự căng thẳng xua tan nhường chỗ nụ cười rạng rỡ khi cháu bé cất tiếng khóc. Mọi người chụm đầu nhìn cháu bé mắt mở to nhìn chúng tôi ngơ ngác.

Một cháu trai mới độ một tuổi, da tím tái vì đói khát và sống trong rừng thiêng nước độc cùng bọn lính chưa có kinh nghiệm chăm sóc trẻ con, công việc cứu cháu bé hoàn thành trong niềm hân hoan của đơn vị và sự khen ngợi của cấp trên. Đơn vị chúng tôi hành quân về vị trí tập kết. Trên đường hành quân có thêm một thành viên tí hon. Anh em thống nhất gọi cháu là ‘‘bé Việt Nam’’.

          Việc đưa cháu về hậu phương gặp muôn vàn khó khăn. Đơn vị toàn nam giới, lính mới tò te, đa số chưa lập gia đình, không ai có kinh nghiệm chăm sóc trẻ sơ sinh khát sữa đói khóc và ỉa đái bất kỳ lúc nào.

          Cuộc hành quân đường dài trên vùng đồi núi hiểm trở, rất nhiều mìn do tàn quân Pon Pot gài lại. Và chúng có thể tập kích bất cứ lúc nào? Mọi người thay nhau bế cháu bé khóc ngằn ngặt trên tay, lính tráng lại không biết dỗ thế nào cho cháu khỏi khóc?

Đến lượt tôi bế, tuy lập gia đình nhưng chưa có con, cũng như đồng đội chưa có kinh nghiệm chăm sóc trẻ con, nhận từ tay đồng đội đứa bé đỏ hỏn, khóc ọ ọe, đôi mắt ngây thơ đen láy nhìn tôi, miệng chúm chím nhều nhệu nước dãi chóp chép. Tôi đoán nó đang đói. Một tình thương vô bờ như tình cảm người cha với đứa con trong lòng  trào dâng mãnh liệt! Từ lâu  tôi mong mỏi có đứa con cho mẹ và vợ chăm sóc, lúc này tôi chợt nhớ tới mẹ và vợ, hai người phụ nữ cô đơn sống dựa vào nhau, giá có đứa bé như cháu  để chăm sóc yêu thương thì tốt biết bao.

Tôi thương nhớ mẹ và vợ, tưởng tượng cháu bé như chính con ruột của mình, ước có cách nào đưa ngay cháu bé về cho mẹ và vợ  nuôi dưỡng chăm sóc, tôi tưởng tượng mình có con ngựa gỗ biết bay trong chuyện ‘‘Nghìn lẻ một…’’ đưa cháu bé về nhà.Tôi bồng bềnh như mơ màng trong cảnh thần tiên với đứa bé trên tay, tưởng tượng mẹ và vợ  sung sướng khi nhận đứa trẻ  như đứa con của tôi trao cho họ trông nom săn sóc, tâm hồn tôi như phiêu du chín tầng mây, chợt bừng tỉnh khi nghe tiếng khóc của cháu bé và tiếng cười nói của đồng đội đi bên cạnh.

Tôi thương cháu bé, căm thù bọn Pon Pot bỏ mặc cháu giữa núi rừng, độc ác gài bẫy để bộ đội Việt Nam khi cứu cháu sẽ dính mìn. Không thể hiểu nổi sự tàn bạo của chúng? Chúng táng tận lương tâm, loài lang sói tàn ác nhất trong thế kỷ 20, khi nhân loại đã bước vào nền văn minh công nghiệp và khoa học hiện đại. Chúng hy sinh cháu bé gài bẫy bộ đội Việt Nam, chúng biết bộ đội Việt Nam sẽ không bỏ cháu bé giữa núi rừng. Chúng không phải là con người.

Tôi không hiểu tâm địa con người lại xấu xa đê tiện, tàn ác đến thế? Trẻ con có tội tình gì? Đáng lẽ cháu phải được sống trong vòng tay yêu thương của bố mẹ anh chị em, không biết những người ruột thịt thân thiết của cháu ở đâu, có thể bị giết chết, chúng không giết nốt cháu để gài bẫy bộ đội Việt Nam.Tôi chợt nghĩ biết đâu đứa trẻ là con của bọn tàn quân Pon Pot? Chúng tôi cứu giọt máu của kẻ thù ngày đêm rình rập  tập kích, chúng tôi  hy sinh xương máu cứu vớt và nuôi dưỡng dòng máu của chúng. Nếu vậy  vứt quách đứa bé khỏi nhọc mình, nhưng tôi tỉnh ngộ ngay vì hiểu trẻ con không có tội, dù cháu bé có nguồn gốc thế nào, cháu vẫn là đứa con của dân tộc Khmer đang đau khổ rên xiết dưới bàn tay tàn bạo của bọn Pon Pot, cần chúng tôi cứu vớt khỏi họa diệt chủng.

Trước đây khi hành quân theo đơn vị tìm diệt bọn tàn quân Pon Pot, nhiều lúc tôi băn khoăn suy nghĩ vể cuộc chiến, tôi chưa hiểu rõ động cơ mục đích của cuộc chiến, vì sao chúng tôi phải xa nhà, xa bố mẹ vợ con, những người ruột thịt thân thiết đi chiến đấu trên đất nước xa lạ?

Dân tộc họ đánh nhau liên can  gì người Việt Nam? Họ thích giết nhau kệ họ, người Việt chiến đấu hy sinh biết bao xương máu để bảo vệ đất nước, giành độc lập tự do cho tổ quốc. Việc nội bộ họ mình can thiệp làm gì cho tốn xương máu nhân dân, biết bao người con dân tộc Việt ngã xuống trên đất nước họ, để lại nắm xương khô nơi đất khách quê người.

          Hậu quả hai cuộc chiến tranh còn nặng nề, vì sao lại tham gia cuộc chiến này, nó đem lại lợi ích cho ai?

          Dân tộc Đại Việt từ xưa chỉ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, chiến đấu tự vệ khi bị xâm lược. Chúng ta không xâm lược ai, không  đem quân đi đánh nước khác vì tự biết mình nhỏ bé yếu đuối. Chúng ta chỉ chiến đấu khi bị bắt buộc, bị đẩy váo tình thế không thể trốn tránh. Từ xưa, chúng ta chỉ có những cuộc chiến tranh giải phóng khỏi ách đô hộ của nước ngoài. Chúng ta  hy sinh xương máu vì cuộc sống của nhân dân, gia đình, vì những người ruột thịt thân thiết.

          Nhưng khi gặp cháu bé trong hoàn cảnh, tư tưởng tôi có nhiều biến chuyển và thay đổi nếp tư duy cũ có tính dân tộc chủ nghĩa.Tôi bắt đầu nhận thức được việc chúng tôi hy sinh chiến đấu là nghĩa vụ cao cả. Chúng ta không thể đứng nhìn người khác sắp chết mà không cứu. Việc cứu cháu bé người Khmer là nhiệm vụ cao cả của chúng tôi, là tình thương bao la của người cha với đứa con bé nhỏ yếu đuối mới chập chững vào đời, chưa đủ sức để bảo vệ mình trong xã hội loài người đầy rẫy bất công phản trắc với biết bao hiểm họa của đời người, của thiên nhiên nổi giận, thiên tai loạn lạc, chiến tranh tàn phá hủy diệt lẫn nhau. Cần có những bàn tay mạnh mẽ giúp cháu thoát khỏi sự chết chóc được sống làm người. Việc làm của chúng tôi là một hành động anh hùng phải được cả thế giới ca ngợi. Được nhân loại yêu chuộng hòa bình ca ngợi và ủng hộ, không  chỉ đứng nhìn người khác chết không cứu còn phán xét này nọ, to mồm nói những điều vô bổ, hô khẩu hiệu, đạo đức giả với lời lẽ khoa trương mị dân và bịp bợm. Cứu một người hơn xây bảy tòa tháp, cứu một người phúc đẳng hà sa.

          Chúng ta cứu cả một dân tộc thoát khỏi họa diệt chủng, đưa họ trở lại làm người. Việc làm của chúng ta anh hùng và cao thượng! Dù đâu đó trên thế giới chưa hiểu. Vì bị tuyên truyền xuyên tạc bôi nhọ, nhưng chúng ta không hổ thẹn với lương       tâm, chúng ta làm phúc không mong trả ơn, không vụ lợi,đó là tinh thần mã thượng cao cả của dân tộc Đại Việt: ‘’Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo…”.Tư tưởng của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi từ 600 năm trước, vẫn vang vọng cùng non sông đất nước, với muôn đời con cháu mai sau.

          Chúng ta có thể ngồi nhìn dân tộc Khmer tàn sát lẫn nhau và bị tiêu diệt, không liên can đến chúng ta, không ai trách chúng ta. Nhưng với lòng nhân ái bao la, tình bè bạn, đồng chí anh em thân thiết, tình làng xóm láng giềng gần gũi, từng chia ngọt sẻ bùi trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

Chúng ta không nỡ ngồi nhìn một dân tộc bị tàn sát bởi bọn dã thú man rợ có bàn tay điều khiển của các thế lực hắc ám vì lợi ích nhỏ nhen ích kỷ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan muốn làm bá chủ thế giới.

          Chúng ta làm nghĩa vụ quốc tế cao cả vừa bảo vệ mình, nhân loại  phải biết lòng nhân ái cao thượng của chúng ta, chúng ta không ngần ngại hy sinh thân mình bảo vệ người khác.

Có thể có ai đó có tư tưởng sô vanh vì động cơ mục đích cá nhân, nhưng không phải tư tưởng của dân tộc Việt Nam. Chúng ta từng là nạn nhân của tư tưởng sô vanh nước lớn nên rất hiểu và thông cảm với các dân tộc nhỏ bé yếu đuối.

          Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển dân tộc nào cũng muốn mở mang bờ cõi, từ xa xưa khi bản đồ địa chính trị thế giới chưa ổn định, đất đai còn vô chủ, chưa có luật pháp quốc tế, đường biên giới giữa các nước chưa phân định rạch ròi, có sự tranh giành nhau, xâm chiếm lẫn nhau, ai mạnh thì thắng, lúc đó luật rừng tồn tại.

 

                                      ***

         

Tôi lấy hộp sữa trong ba lô, lấy đầu ngón tay chấm một ít đưa vào miệng cháu bé. Đứa bé ngậm chặt ngón tay tôi, mút thun thút nhằn ngón tay, tôi có cảm giác nhột, như có sợi  dây nối tình máu mủ cha con ruột thịt, tôi  nghĩ đây là đứa con của mình, tôi mang nó đi theo làm nhiệm vụ quốc tế cao cả.

          Mọi người trong đơn vị đang mải miết hành quân giữa rừng già với bao nguy hiểm chết chóc rình rập, đe dọa bất cứ lúc nào,  cảm thấy thích thú vui mừng khi có đứa trẻ bên cạnh.

Họ trầm trồ thán phục tôi có duyên với cháu bé khi chứng kiến thằng bé ăn sữa xong nằm ngủ ngon lành trên tay tôi, nét mặt trẻ thơ như thiên thần giữa núi rừng bao la cô quạnh. Một mầm sống đang hồi sinh trên cánh rừng hoang tàn đổ nát bởi chiến tranh và sự tàn phá của Khmer Đỏ, sức sống kỳ diệu của một dân tộc bất diệt đang hồi sinh đứng dậy từ đống đổ nát hoang tàn.

          Từ bữa đó tôi trở thành ‘‘ ông bố bất đắc dĩ’’, ba lô đồ dùng  được đồng đội mang đỡ, tôi đeo súng trước ngực, lủng lẳng bên hông là bình toong sữa, một chiếc khăn mặt đút túi quần để lau nước dãi mặt mũi thằng bé.Tôi nhớ lại hồi ở trung tâm huấn luyện Biển Hồ, thấy người phụ nữ Tây Nguyên địu con trên lưng khi làm rẫy. Tôi lấy tấm khăn croma buộc ngang địu đứa bé trên lưng. No sữa, thằng bé nằm im ngủ trên lưng, chúng tôi lặng lẽ hành quân dưới những tán rừng già.

          Qua những bản làng, người dân bắt đầu trở về xây dựng cuộc sống mới, qua những nơi có người ở, chúng tôi tranh thủ tìm những người phụ nữ mới sinh xin cho cháu bú nhờ.Họ thấy bộ đội Việt Nam  truy quét tàn quân Pon Pot trở về mang theo đứa bé cứu được trong lán trại của Pon Pot đều thán phục:

-Bộ đội Việt Nam tốt quá! Bọn Pon Pot tàn ác hơn thú dữ, chúng giết cả trẻ con người già, phụ nữ mang thai, đang nuôi con nhỏ.

Có người muốn nhận nuôi cháu bé, nhưng vì quy định và xuất thân cháu bé, chúng tôi không được giao cho dân nuôi, phải mang về cho đội công tác đặc biệt của bạn. Những lúc dừng chân nghỉ ngơi sau chặng đường hành quân vất vả, anh em đơn vị, toàn những chàng lính trẻ chưa có gia đình xúm đến tranh nhau bế đứa bé, hôn hít xuýt xoa như lâu ngày gặp người thân thiết.Tôi nhìn đồng đội, lưng thấm mồ hôi mặt nhễ nhại lấm lem đất cát bụi bậm ẵm đứa bé trên đôi tay cứng cáp với cử chỉ vuốt ve lóng ngóng ngượng ngập, lời ru ồ ồ, oang oang như ngỗng đực với tình cảm chân thực đáng yêu. Lòng tôi càng xúc động nhớ mẹ và vợ đang cô đơn nơi quê nhà, mong có đứa trẻ để chăm sóc chiều chuộng.

          Cuộc sống gia đình có trẻ con, niềm vui hạnh phúc nhân lên rất nhiều. Nó là tương lai là sự nối tiếp của dòng giống, đời người.

          Có hôm hành quân, tôi thấy trên lưng âm ấm, xon xót, nghĩ do hành quân mồ hôi ướt lưng áo. Đến khi thấy đứa bé cựa quậy, khóc ọ ọe và những người đi bên cạnh chun mũi tránh mùi khăm khẳm xộc vào, tôi mới tá hỏa phát hiện cu cậu ị trên lưng.

Mọi người trêu trọc ‘‘bố con tôi’’, nói cu cậu ‘‘ nổ mìn’’ trên lưng bố, tôi cảm thấy hạnh phúc như người bố thật sự.

          Áo quần tôi ngoài mùi mồ hôi, thêm mùi khai hăng hắc nước tiểu trẻ con. Lúc đầu tôi hơi ngại, nhưng do tình cảm gắn bó như cha con, tôi vượt qua trở ngại đó một cách tự hào.Tôi và cháu bé càng gắn bó như cha con thật sự. Lúc mọi người tranh nhau bế ẵm chơi đùa với cậu bé nhưng khi nó ỉa đái họ sợ chạy tóe loe vì chưa quen cảnh ấy, tôi lại hãnh diện làm ‘‘nhiệm vụ quốc tế’’ cao quý không nề hà. Nghĩ mình may mắn được chăm sóc đứa con  mong mỏi.

          Sau mấy ngày hành quân ròng rã, ngày đi đêm nghỉ, đơn vị chúng tôi trở về vị trí tập kết an toàn.

          Thủ tục bàn giao ‘‘bé Việt Nam’’ cho đội công tác đặc biệt của bạn diễn ra nhanh chóng. Chúng tôi chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Chia tay cháu bé, tôi bồi hồi xúc động không muốn rời, hẫng hụt như  mãi mãi rời xa đứa con ruột thịt gắn bó. Nước mắt lưng tròng nhìn cô cán bộ đội công tác bế cháu bé đi xa dần.Tôi trống trải cô đơn nghĩ không bao giờ được gần gũi ôm ẵm vuốt ve nựng nịu đứa con của mình nữa.

          Tôi bần thần suốt mấy ngày, đồng đội thấy tôi im lặng buồn rầu không cười không nói, biết tôi nhớ đứa bé, nhiều người cũng thấy hẫng hụt khi không còn đứa bé để chơi đùa sau những chặng đường hành quân vất vả gian khổ trên đất nước  Campuchia đang hồi sinh từng ngày, từng giờ.

          Nghĩ lại lúc cháu bé bị bỏ rơi trong rừng làm mồi và bia đỡ đạn cho bọn Pon Pot, tôi căm giận, căm thù bọn chúng và xót thương cháu bé. Tôi vui mừng cháu bé được cứu sống trở về trong lòng dân tộc, không biết sau này cháu có tìm lại được người thân thiết ruột thịt, không biết họ  còn sống hay bị giết chết bởi bọn dã thú, nếu vậy cháu sẽ cô đơn trên cõi đời.Tôi bồi hồi thương xót cho kiếp người lẻ loi trên thế gian đầy rủi ro bất hạnh, con người sinh ra để làm gì? Chúng ta sinh ra trên cõi đời vì mục đích gì? Con người tồn tại trên thế gian mấy chục năm rồi đều trở thành cát bụi. Sau khi đấu tranh gian khổ vì cuộc sống vật chất, tinh thần, vì tình yêu hạnh phúc đau khổ và bất hạnh song hành, vì những điều cao cả lớn lao và những nhỏ nhen ích kỷ, vì sự dũng cảm và thấp hèn, đểu cáng ti tiện, cùng tấm lòng bao dung tha thứ, tội ác và tình thương, luôn tồn tại trong  con người?

 

 

 

          6-Khoảng giữa năm1979, đơn vị tôi đóng quân tại phum Tha La bên bờ sông Mê Công tỉnh Stưngtreng.

          Sau khi giải phóng Campuchia, đơn vị tôi tham gia phối thuộc các tiểu đoàn bộ binh truy quét tàn quân Pon Pot ở khắp các tỉnh Quân khu Đông Bắc Campuchia gồm các tỉnh: Stưngtreng, Xiêmpăng. Đại đội chúng tôi được giao nhiệm vụ bảo vệ phía Bắc Quân khu tiền phương và bảo vệ trục đường 126 đi Chép. Vừa làm nhà xong thì bắt đầu chuyển mùa mưa. Sáng hôm đó tiểu đôi tôi nhân nhiệm vụ đi thông đường và bảo vệ dân sản xuất ở phum Thốt Nốt, cách phum Tha La 7 km về phía Tây Bắc.

          Chúng tôi lùng sục một vòng bên ngoài phum Thốt Nốt, trời bỗng sầm sập bởi trận mưa đầu mùa. Những tán cây vú sữa xanh ngắt, những rừng cây cao su ngun ngút bao bọc như những chiến lũy màu xanh, xa xa một dải đồi xanh đang chìm trong mưa trắng. Tôi cùng Minh, Cử chạy trú mưa dưới một sàn nhà, chợt nghe tiếng rên nho nhỏ và tiếng khóc thảm thiết:

-Mẹ ơi, cùn căm lặp…( Mẹ ơi, đừng chết! Mẹ ơi, đừng bỏ con)- Nghe não nuột.

          Ba anh em chúng tôi vội leo cầu thang vào nhà. Một bà mẹ nằm co quắp, mắt nhắm nghiền thiêm thiếp trên giường, gương mặt hốc hác của người bệnh ốm lâu ngày. Thấy chúng tôi hai đứa trẻ vừa khóc lu loa gọi mẹ, trố mắt nhìn có vẻ sợ sệt.

Tôi hỏi các em:

-Me sư ây( mẹ đau gì?)

-Me xư khơ liêng. Bây thơ ngày hơi( mẹ sốt ba ngày rồi… )

Ở đó chưa có đội công tác nên tôi vội xuống báo với anh Hỷ- Trung đội trưởng cùng đi:

- Bà mẹ hai đứa nhỏ này sốt nặng lắm, giờ làm sao?

- Báo cáo với đại đội để Ban chỉ huy  có ý kiến chỉ đạo.

Trưa hôm đó, về đến đơn vị, chúng tôi lên đại đội báo cáo. Anh Chính- Chính trị viên đại đội bảo chuyển bà ấy về phum Tha La, tôi sẽ điện báo trạm thu dung sư đoàn, nhờ họ điều trị giúp.

  Chiều hôm ấy, tôi Minh và hai người nữa mang võng đòn khiêng chuyển bà đến trạm thu dung vùa chập tối.

Các anh ở trạm tiếp nhận, kiểm tra nhiệt độ, mạch của bà xong hỏi:

-Bà này ở đâu?

 - Đây là dân ở phum Thốt Nốt có hoàn cảnh rất thương tâm, chồng và đứa con trai lớn bị bọn Pon Pot bắt đi không có tin tức, không biết còn sống hay bị giết, nhờ các anh chạy chữa. Bà chỉ còn hai đứa con nhỏ không biết xoay sở ra sao.

Sáng hôm đó, tiểu đội tôi dậy sớm. Cơm nước xong phải đội mưa đi thông đường,trời mưa 20 ngày liên tục dầm dề. Mưa triền miên, suốt ngày đêm, trời mù mịt, cả ngày một màu trắng đục.

          Dòng sông Mê Công trong xanh hiền hòa, bây giờ nước đầu nguồn đổ về giận giữ như nạn hồng thủy sắp xảy ra? Hôm nay các suối nước chảy xiết mạnh, phải dò dẫm đi từng bước nên về muộn. Minh nói:

-Bà già phum Thốt Nốt nằm điều trị ở trạm hơn tháng, hôm qua anh Cử lên thăm thấy bà khỏe, nhưng trạm chưa cho về, bảo phải truyền đạm cho lại sức.

Bỗng ngoài đường trong tiếng mưa rơi rào rào trên mái dừa, mẹ Thốt Nốt nói:

-Bộ đội Tâm ơi, mẹ xin về rồi đây này!

Chúng tôi mừng quá, mời bà vào nhà. Anh Cử hỏi mẹ hết bệnh chưa mà về. Bà nói bộ đội ở trạm không cho về nhưng bà xin về, bộ đội tốt lắm nhưng, bà chỉ tay ra ngoài trời nói, mưa nhiều, nước sắp về. Nước lớn lắm đấy.

Mẹ chỉ cây thốt nốt ngoài sân và chỉ mực nước sẽ ngập cửa nhà chúng tôi đang ở.

Chiều hôm đó, mưa như trút nước, mưa mù mịt. Nước tràn bờ, tràn vào đường đi. Anh Cử lo lắng than vãn cho trung đội mình, trung đội 2 nó ở trên đồi sướng quá, trung đội 1 mình ở mặt bờ sông nước đang tràn vào doanh trại. Thủ trưởng Chính bảo, ăn cơm xong trung đội 1 phải di chuyển gấp lên đồi.

Chúng tôi ăn cơm đứng, quần áo ướt như chuột.Bà mẹ Thốt Nốt đến thăm tiểu đội tôi nhắc:

-Không kịp đâu, nước về đấy, dọn đi ngay!

Trời vừa sập tối. Nước lênh láng ầm ào không biết từ đâu đổ về. Một lát nước đã vào nhà ngập lên tới bụng. Mẹ bảo, các con dọn về nhà mẹ ngay. Nhà mẹ cao lắm.

Chúng tôi dò dẫm trong nước chảy, dọn tư trang, vũ khí súng đạn về nhà mẹ ba lượt mới hết. Nước càng dâng cao. Anh Cử bảo kiểm tra lại xem có thiếu cái gì. Chúng tôi kiểm tra thấy thiếu cái hòm máy ngắm bắn máy bay. Nếu không tìm sợ trôi mất. Tôi bảo để tôi đi, mẹ cản không cho đi nói, các con không biết đường đâu, trời tối nước chảy xiết nguy hiểm lắm!Tính mạng là quan trọng, đừng đi.

          Nhưng chúng tôi sợ mất vũ khí sẽ bị kỷ luật nên vẫn đi.Mẹ nhắc nếu đi thì phải nhiều người. Rồi mẹ vào bếp lấy cuộn dây thừng bảo cột vào bụng, nối với nhau và dặn chỗ cây cầu gỗ nước chảy xiết rất nguy hiểm.

Nghe lời mẹ chúng tôi buộc dây thừng nối với nhau. Trời tối như mực, đốt cây đuốc ‘‘chèn lo’’ của mẹ cho. Chúng tôi dò dẫm đến đoạn cầu gỗ, nước chảy xiết, chân như bị kéo đi.

Minh cằn nhằn, nguy hiểm quá, trở lại đi. Vừa dứt lời, nghe phựt một cái. Sợi dây vụt căng kéo, có người la lớn:

-Minh bị cuốn trôi rồi, tôi chỉ nghe tiếng réo ầm ào của sóng nước lẫn tiếng kêu thất thanh của mọi người. Anh em đứng phía sau trụ lại. Chúng tôi như co kéo vời thần chết cố bện lấy nhau, sợi dây thừng căng cứng neo chặt chúng tôi lại, cố kìm giữ để Minh khỏi bị nước cuốn trôi. Chúng tôi la lớn để anh em trong đơn vị biết. Lúc này Minh hoàn hồn bịn vào dây, được mọi người kéo về. Bám được vào nhánh cây bên đường, nhờ đoạn dây buộc vào cây nên anh em cố gắng kéo Minh ngược lại đu theo sợi dây. Thoát nạn, chúng tôi tập trung về nhà mẹ Thốt Nốt. May mà mẹ nhắc  chúng tôi cột dây nếu không bị nước cuốn trôi toi mạng.

Thật hú vía, tôi suýt mất đi người bạn thân cùng vào sinh ra tử cùng đi chiến đấu, chúng tôi cùng đồng hương như anh em ruột thịt. Minh với tôi cùng huyện, cùng nhập ngũ một ngày, cùng đơn vị chiến đấu  khắp nơi trên đất nước bạn. Nếu Minh bị nước cuốn trôi, tôi sẽ đau khổ vô cùng, Minh chưa vợ con bố mẹ già, các chị gái đi lấy chồng ở riêng hết. Ở nhà hai ông bà già chăm sóc nhau  như mẹ và vợ tôi. Chúng tôi cùng cảnh ngộ, đều là thanh niên mới lớn chưa hiểu biết nhiều về xã hội và cuộc sống con người. Chúng tôi từng hứa hẹn đứa nào hy sinh người còn lại phải đưa hài cốt bạn về cho gia đình, nếu cả hai cùng hy sinh thì thôi. Nếu Minh bị nước cuốn trôi làm sao tìm thấy xác, tôi lo lắng thắt ruột khi Minh bị nước cuốn đi. Nếu không có bà mẹ Thốt Nốt chắc không thể thoát?

          Sông Mê Công không có đê chắn nước như các con sông ở miền Bắc Việt Nam , mùa lũ nước tràn hai bên ngập hết nhà cửa đồng ruộng mùa màng, nhưng đồng ruộng được phù sa bồi đắp hàng năm rất mầu mỡ trù phú.

Bà mẹ Thốt Nốt có kinh nghiệm, nhắc nhở chúng tôi may mắn thoát nạn, đêm đó chúng tôi ngủ một giấc ngon lành trên sàn nhà mẹ. Đêm tôi mơ thấy Minh bị lũ cuốn trôi, tôi hoảng hốt kêu thất thanh làm mọi người giật mình tỉnh giấc. Tôi nhớ đến mẹ và vợ ở nhà không sao ngủ tiếp được nữa, quê tôi cạnh con sông Hồng không biết mùa lũ này nước sông có lên to? Năm 71 tôi mới hơn 10 tuổi nước lên to lắm, nhà tôi ngập tận nóc, cả làng phải chạy vào trong đê, ai có người thân quen thì ở nhờ, nhiều người quây tạm lán trên mặt đê hàng tháng chờ nước rút mới về làng. Không biết mùa lũ năm nay nước có tràn vào? Mẹ và vợ tôi hai người đàn bà làm sao xoay sở chống trọi được? Tôi cứ nằm nghĩ vẩn vơ cả đêm không ngủ.

          Hai ngày sau mưa dịu và nước rút dần, nhà của tiểu đội tôi đầy bùn ngập đến đầu gối, phù sa của dòng sông Mê Công là thế, nước lên nhanh và rút  nhanh không để lại hậu quả nặng nề. Chỉ cần nắm vững quy luật và sẵn sàng ứng phó sẽ không bị thiệt hại  người và của.

Chúng tôi thu dọn đồ đạc, sửa mái thưng vách, cào bùn trong nhà, dội nước làm vệ sinh. Bà mẹ Thốt Nốt khỏi bệnh giúp chúng tôi nhiều việc. Mẹ nói:

-Bộ đội Việt Nam giỏi lắm! Việc gì cũng làm được. Một tuần sau mưa ngớt dần, mẹ mời anh em tiểu đội chúng tôi đến nhà mẹ. Một nồi cháo tôm thơm phức mùi hành, hôm nay mẹ bắt được nhiều tôm càng xanh, mẹ nói, lụt qua rồi, mẹ bắt được mớ tôm bồi dưỡng các con.

Tôm lột giã nhuyễn nấu với gạo, tôm nhiều hơn gạo, vị ngọt của tôm ngon lắm, mẹ nói:

-Mẹ cảm ơn các con đã cứu mẹ, đưa mẹ đi cứu chữa, cám ơn bộ đội Việt Nam, cám ơn 12 đứa con của mẹ.

Trong tiếng cười đùa và tiếng húp cháo soàn soạt, mẹ kể cuộc đời của mẹ. Mẹ nói, mẹ gốc người Lào ở Mường Khổng, do chồng mẹ đi mua bán theo đường sông gặp mẹ cưới về Campuchia. Sau 1975, Pon Pot nắm chính quyền, Angca bắt giữ chồng mẹ, cho là thân Lào, chúng bắt cả đứa con trai lớn đi theo lính Pon Pot. Mẹ nghẹn ngào :

-Không biết thằng bé theo giặc vào rừng ở đâu, còn sống hay chết?

          Chúng tôi nói tiểu đội cám ơn mẹ giúp đỡ, báo trước cứu chúng con trong cơn lũ. Chúng tôi xin nhận mẹ làm mẹ tiểu đội, mẹ bộ đội Việt Nam.

Nghe chúng tôi nói, mẹ mừng rỡ, ánh mắt long lanh, nụ cười nghẹn ngào:

-Mẹ mất một đứa con theo Pon Pot, bây giờ mẹ có 12 đứa, mẹ mừng lắm.

Mẹ xoa đầu từng đứa nhẩm tính:

-Mẹ miên đập pờ ram côn. Côn Việt Nam đập pi. Côn Khơ Me bây( Mẹ có 15 con. Con Việt Nam 12. Con Campuchia 3. Mẹ sung sướng và hạnh phúc lắm!)

Từ đó tình cảm của tiểu đội chúng tôi với mẹ rất thắm thiết, chúng tôi dạy cho hai con của mẹ nói tiếng Việt và dạy văn hóa, chúng dạy chúng tôi tiếng Khmer; tắm rửa cắt tóc cho chúng.Chúng thích ăn bánh mỳ của bộ đội Việt Nam. Còn mẹ có món ăn ngon đều để dành cho chúng tôi.Từ hoa quả cho đến con cá con tôm mẹ bắt được. Chúng tôi nhắc nhở nhau phải giữ nghiêm 9 điều quy định của bộ đội Việt Nam khi làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn cho mẹ hiểu. Mẹ nói:     

-Các con là con của mẹ, mẹ không lo. Các con không vi phạm điều gì. Đây là tấm lòng của mẹ. Mẹ tự nguyện, các con có yêu cầu đòi hỏi, không ai có quyền ngăn cản tình cảm mẹ con. Các con cứ yên tâm, các con phải xa mẹ Việt Nam sang đây giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đuổi bọn diệt chủng Khmer Đỏ cứu dân tộc Khmer khỏi họa diệt chủng. Các con hy sinh cả tính mạng của mình vì sự bình yên của nhân dân Campuchia, mẹ phải thay các bà mẹ Việt Nam chăm sóc các con.

Mẹ chỉ bí quyết bắt tôm càng xanh cho chúng tôi, nướng cùi bắp non cắm bờ sông xăm  xắp nước dùng cái nơm chụp, mò là có ngay.

Đơn vị chúng tôi đóng quân ở Tha La hơn bốn tháng, bắt đầu  mùa mưa, trải qua hai lần lũ nữa. Được sự chỉ dẫn của mẹ, chúng tôi an toàn và có kinh nghiệm chống lũ. Đơn vị đã có lệnh di chuyển. Chúng tôi muốn nói lời chia tay với mẹ nhưng không biết ngày nào đi?

Mẹ tâm sự, xem chúng tôi là con. Mẹ muốn tặng các con một kỷ vật. Mẹ lấy một rổ tre đựng vàng, gồm nữ trang dây chuyền nhẫn, lóng lánh sáng chói dưới ánh đuốc. Mẹ nói, ngày xưa chồng mẹ buôn bán từ Lào sang Campuchia và ngược lại rất giàu, có nhiều vàng. Cũng may khi Pon Pot nắm quyền, mẹ cất giấu chúng không biết. Các con, 12 con của mẹ sắp chia tay, biết bao giờ gặp lại.Mẹ muốn tặng mỗi đứa một kỷ vật làm kỷ niệm tình mẹ con.

Chúng tôi toàn những thanh niên nhà quê từ bé chưa nhìn thấy vàng bao giờ mắt sáng lên trong ánh vàng rực rỡ. Tuy chưa nhìn thấy nhưng ai cũng từng nghe về giá trị của nó, ai cũng có mẹ, chị em gái hoặc vợ như tôi, có một món quà bằng vàng mang về làm quà  còn gì hơn? Có người muốn ra mặt, có người cố kìm giữ vì thể diện, người giả vờ thờ ơ nói chắc gì sống được mà mang về. Chết là hết, vàng cũng không có ý nghĩa ?

Tôi cũng đoán được tâm trạng anh em, cũng như họ nếu có  một thứ sau này tặng vợ, chắc vợ tôi thích lắm. Ở quê chúng tôi rất nghèo khi cưới không ai có nhẫn, nó là thứ chúng tôi không bao giờ dám mơ ước, đồ dùng cho vợ chồng mới cưới còn không có, như giường tủ chăn màn quần áo không sắm nổi nói gì nhẫn là thứ sa sỉ.

Nhưng nghĩ đến quy định của quân đội nên chúng tôi dằn lòng không cho sự ham muốn trỗi dậy, dù chúng tôi không đòi hỏi,  mẹ tự nguyện tặng chúng tôi.Nhưng để tránh dư luận, kẻ xấu xuyên tạc chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc. Giữa bộ đội tình nguyện Việt Nam với nhân dân Khmer  chúng tôi nhất trí đồng thanh không nhận món quà của bà mẹ Thốt Nốt. Chúng tôi cám ơn tấm lòng của mẹ, tình cảm của mẹ dành cho chúng tôi trong thời gian ở cùng mẹ, nói mẹ cất giữ sau này lo cho hai em ăn học và xây dựng cuộc sống trên đất nước Campuchia đang hồi sinh sau thảm họa diệt chủng của Khmer Đỏ.

Mẹ bùi ngùi xúc động tay giữ khư khư rổ chứa đồ không muốn cất đi, mắt nhìn chúng tôi chằm chặp lóng lánh nước. Chúng tôi nhắc nhở mẹ, chúng con sang đây làm nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia  đánh đuổi bọn diệt chủng Pon Pot. Nhân dân Campuchia còn nhiều khó khăn thiếu thốn sau mấy năm phá hoại của chính quyền Khmer Đỏ, đất nước bị xáo trộn, làng xóm điêu tàn, tan hoang gia đình tan nát ly tán, nhà cửa mất mát, cần phải khôi phục, xây dựng và sửa chữa.

Chúng con vì tình cảm cao quý không vì vật chất tiền bạc. Chúng con không phải quân đội xâm lược đi cướp bóc như sự rêu rao của một số kẻ vu khống Việt Nam xâm lược Campuchia, đang cướp bóc nhân dân Campuchia?

Mẹ nghe ra hiểu và thông cảm càng yêu quý chúng tôi. Nếu chúng tôi nhận vàng của mẹ cũng không ai biết, vì mẹ tự nguyện thực tâm, chúng tôi không đòi hỏi. Chúng tôi quý trọng tình cảm của mẹ, không coi vàng bạc là quý. Mặc dù chúng tôi, gia đình bố mẹ vợ con ở quê nhà đang khó khăn thiếu thốn.

Hôm sau mẹ lặng lẽ mua 12 chiếc khăn Croma từ lúc nào. Ba ngày sau chúng tôi được lệnh hành quân về Chép. Sáng hôm đó chúng tôi dậy sớm, anh em cơm nước rồi chia tay chào tạm biệt  nhân dân ở gần đơn vị. Riêng tiểu đội chúng tôi mẹ không cho đi đâu. Mẹ quàng khăn Croma vào cổ từng đứa như ngày hội nhập ngũ được các cô gái quàng vòng hoa vào cổ tiễn lên đường.

Mẹ trao cho chúng tôi mỗi người một gói xôi thịt nấu theo kiểu  người Lào thơm lừng mùi nếp và thịt xào thơm phức. Mẹ nói:

-Nức ná cou ơi! ( nhớ lắm con ơi!), mẹ nhắc tên từng người trong tiểu đội.

Chiến tranh gây ra bao cảnh chia ly mất mát, điêu tàn, con mất cha, vợ mất chồng, mẹ mất con, anh em tan tác, gia đình ly tán. Những bà mẹ Việt Nam bao lần tiễn con ra trận, hàng ngày mòn mỏi ngóng trông.Tôi nhớ người mẹ ở quê nhà như người mẹ Campuchia, suốt đời hy sinh cho chồng con, các bà mẹ trên thế giới ở đâu cũng thế.Tình mẫu tử rất thiêng liêng là thiên phú của con người. Họ là những người chịu nhiều đau khổ nhất khi chiến tranh xảy ra. Chia tay bà mẹ Campuchia tôi rất lưu luyến, nước mắt rơi lã chã, sau này tôi có dịp gặp lại mẹ khi trở lại Campuchia, lúc tôi thất vọng đau đớn vì hoàn cảnh trớ trêu, chiến tranh đẩy con người vào nhiều bi kịch không sao hiểu nổi.

(CÒN NỮA) 

 

 

Người đăng tin: Lê Văn Thọ

Tác giả bài viết: LÊ VĂN THỌ-HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước