TIỂU THUYẾT:DƯỚI CHÂN TƯỢNG ĐÀI-I [Tiểu thuyết]

Thứ tư - 28/10/2015 06:05



1-Tôi đeo ba lô bước chân lên con đường đá gập ghềnh lòng bồi hồi thổn thức xao xuyến, qua lối rẽ vào làng tôi càng xúc động.Con đường tuổi thơ tôi đi  qua lại không biết bao nhiêu lần, đường đất nên cứ mưa là có vũng nước đọng lại trong những ổ gà ổ trâu, hai mép đường cỏ dại mọc um tùm nhiều khi lấn cả vào đường, hai hàng cây bạch đàn cao vút gió thổi vi vu, tỏa bóng che nên không có ánh nắng lọt vào lúc nào cũng mát mẻ.Con đường rẽ vào làng không phải trục đường chính nên bao năm qua vẫn không được cải tạo như những con đường khác, cứ mưa là lại ngập lụt, nhưng vì đường tắt ngắn hơn so với trục đường chính nên người ta vẫn cứ đi cho nhanh khi phải vào các xã trong đê hay vào huyện lỵ Những ngày mưa đường vắng, hoặc tối người yếu vía không dám đi.Hồi ở nhà có lần tôi và người yêu đi qua ban đêm không biết có phải hãi tối em cứ ôm riết tôi, chúng tôi vừa đi vừa hôn nhau thỏa thích không sợ ai bắt gặp vì buổi tối rất vắng. Những đôi yêu đương tìm hiểu hay bồ bịch trong làng ban đêm thường mang nhau ra tình tự vì không sợ có người nhòm ngó, càng về khuya càng vắng ngắt, không một bóng người qua lại.Nó chỉ cách xóm đầu tiên vào làng vài trăm mét nên rất tiện.Hồi mới yêu nhau tôi và em có lần ngồi hàng giờ trên con đườn này, con đường gắn nhiều kỷ niệm tuổi thơ của tôi, mỗi lần đi qua tôi vẫn xúc động, không hiểu vì lý do gì chỉ thấy  bồi hồi thổn thức xao xuyến!Trên đọan đường này lần đầu tiên tôi biết đến cơ thể phụ nữ, tối hôm đó đang đi em sa chân xuống ổ gà, em bám chặt tôi nên cả hai lăn xuống vệ cỏ, mắt tôi úp vào ngực em, chiếc cúc áo nơi ngực bật tung ra, miệng tôi kề ngay đầu vú, tôi cứ thế ngậm chặt lấy, tay kia lần sang đầu vú bên kia, em bất ngờ không chống trả được, rồi chúng tôi đê mê không còn biết gì nữa,tôi lợi dụng tình thế cứ muốn nằm mãi, em phải co tôi dậy lầu bầu, thôi dậy đi ông tướng ạ. Có người nhìn thấy kìa, tôi tiếc rẻ hậm hực,có ma nào ở đây vào giờ này. Sau lần đó thỉnh thoảng chúng tôi lại mang nhau ra đây tình tự. tôi cảm ơn cái ổ gà giúp tôi có dũng khí, vì từ trước tôi vẫn nhút nhát không dám đụng vào người em, lòng muốn nhưng ngài ngại thế nào.Cứ mỗi lần đi qua nhìn cái ổ gà tôi lại tủm tỉm cười, có lần đi cùng em thấy tôi tủm tỉm em hỏi cười gì thế, tôi bảo cười cái ổ gà, sao lại cười, nhờ cái ổ gà anh bắt được con gà to…em ngẫm nghĩ rồi bảo tôi chỉ được cái lợi dụng…còn em thì không, cứ nằm im cho người ta bóp…em chối đừng hòng nhé, tại ai cứ đè không cho người ta ngồi dậy?...      

Không hiểu sao sự lo lắng bỗng nổi lên? Trực giác mách bảo có điều gì đó, tôi không sao hình dung,  trong lòng như sóng dậy, không hiểu ở nhà có chuyện gì? Mẹ và vợ tôi ra sao? Tôi muốn đem sự bất ngờ cho mẹ và em nên không báo trước. Tôi xa nhà đi chiến đấu mấy năm, hôm nay trở lại trong vòng tay mẹ và người vợ thân yêu. Những ngày qua tôi luôn nhớ tới mẹ và em, không hiểu hai mẹ con  xoay sở ra sao khi trong nhà không có bàn tay ngườì đàn ông. Chắc buồn lắm khi chỉ có hai người đàn bà cô đơn nương tựa nhau.Gía tôi có đứa con để họ chăm sóc thì hay, muốn vậy nhưng ông trời không thương biết làm sao?

Cha mất khi tôi hơn mười tuổi, vài năm sau bà nội vì thương nhớ cha  thành bệnh cũng ra đi, mẹ ở vậy nuôi tôi không đi bước nữa.Sau này lớn hiểu biết chút ít việc đời tôi ân hận, lúc bé  như bao đứa trẻ mất cha không muốn người đàn ông khác đến với mẹ. Có vài người tìm hiểu muốn gá nghĩa với mẹ nhưng thấy tôi tỏ vẻ khó chịu và phá phách nên họ thôi, sau này có lần hỏi, mẹ nói thương tôi khổ, tôi thương mẹ vô cùng! Mẹ hy sinh tất cả vì tôi, thương yêu tôi nhất trên đời, vậy mà…tôi cố gắng học hành chăm chỉ ngoan ngoãn để mẹ khỏi buồn. Mẹ hy sinh  tuổi trẻ nhiều ước mơ của người thiếu phụ trẻ trung ham muốn, lo cho tôi, tôi không được phụ tấm lòng bao dung và tình thương bao la của mẹ.          

Cha  mất, mẹ ba mươi tuổi còn rất trẻ, tuy không giàu, cha cũng để lại cho mẹ con mấy gian nhà đàng hoàng, mấy sào vườn thừa kế từ ông bà nội, hai mẹ con không thiếu thốn quá. Mẹ làm ruộng, chăn nuôi, làm vườn tăng gia cải thiện nên  đủ sống.

Tôi lớn vô tư trong tình thương yêu của người mẹ đơn đơn chiếc không có một bờ vai nương tựa.

Một mình mẹ tần tảo sớm hôm cho tôi ăn học bằng người, sức học tôi  trung bình,  hết cấp ba không đỗ đại học.Tôi ở nhà làm ruộng tham gia công tác ở địa phương. Tôi và em yêu nhau từ năm cuối phổ thông, cùng công tác đoàn thân nhau rồi yêu nhau, và tổ chức sau  khi  ra trường mấy tháng, em mồ côi mẹ, chúng tôi  thông cảm hoàn cảnh của nhau, tình yêu tuổi học trò rất vô tư trong sáng và thơ mộng.

Mẹ  phấn khởi khi tôi lập gia đình, mẹ yêu quý con dâu như con đẻ, hai mẹ con lúc nào cũng vui vẻ trò chuyện ríu rít, nhiều lúc tôi ghen tị, cảm thấy mình lạc lõng giữa hai người phụ nữ.

       Tôi trở thành thiểu số khi đôi co tranh luận, hai mẹ con  vào hùa với nhau.Mình tôi một phe, nhưng tôi biết đó là điều hạnh phúc may mắn. Tôi không bị kẹt giữa hai người phụ nữ đối đầu,  cảnh mẹ chồng nàng dâu nhiều gia đình. Mẹ tôi là người hiểu biết và tâm lý. Mẹ lo hạnh phúc của tôi. Mẹ không lo mình.Vợ tôi  là người hiền lành dễ tính không coi mẹ chồng là người dưng nước lã.

Vợ tôi biết ơn mẹ sinh  và nuôi dưỡng người em yêu thương, tôi hạnh phúc và được nuông chiều bởi hai người phụ nữ.

Cuộc sống gia đình hạnh phúc nơi làng quê êm đềm thơ mộng, đất nước thanh bình tuy còn nhiều khó khăn thiếu thốn do kinh tế tập thể không phát triển.Hậu quả của cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt,và nhiều nguyên nhân khác.

Chúng tôi cưới nhau gần một năm nhưng chưa có kết quả, nhiều lúc  nhìn thấy sự buồn rầu trong mắt mẹ, dù không nói, không biểu hiện nhưng tôi biết mẹ mong có cháu bế.

Chúng tôi còn trẻ không lo lắng.Vợ tôi vui vẻ nói, rồi chúng mình sẽ có con như mọi người.

 

 

Tôi thơ thẩn trên con đường làng nghĩ ngợi lung tung, giờ này mọi người ra đồng nên vắng vẻ, không gặp ai trên đường. Vài đứa trẻ tung tăng nhảy nhót hái hoa bắt bướm, tôi cô đơn trống rỗng, cảm thấy cuộc sống vô nghĩa, cuộc đời hư vô, tôi từ cõi chết trở về.

Đi trên con đường tuổi thơ ngày nào cũng qua nhưng tôi thấy lạc lõng vô cùng, cảm thấy ở một thế giới khác, một nơi hoang vu lạnh lẽo như hoang mạc.Tôi không nhìn thấy gì, nghe thấy gì,tôi cắm cúi lầm lũi như bước vào nghĩa địa đầy hố chôn người trên đất nước Campuchia đau thương tang tóc, những cảnh chết chóc rùng rợn hiện lên trong trí óc. Mắt tôi mờ nhòa lệ!

Bước chân bồng bềnh, lòng cuộn sóng, tâm hồn phiêu du vào cõi mộng mị, tôi chợt nghĩ đến cô gái Khơ-me, giờ này em ở đâu,  cuộc đời em có thành bi kịch trên đất nước Campuchia đang hồi sinh, sau khi trải bao năm tháng hãi hùng đau đớn và bất hạnh, em không còn người thân thích trên cõi đời đen bạc sóng gió?

Tôi có làm hại cuộc đời em?Vì một phút ham muốn yếu đuối của người đàn ông bản năng, nhưng tôi yêu em, thương em, chúng tôi gặp nhau trong hoàn cảnh khắc nghiệt! Tôi không biết có đền đáp tấm lòng vị tha bao dung to lớn của em, lòng tôi đau đớn, ngực như có hòn đá đè nặng.Nếu không có em tôi không sống được và trở về quê hương sau hàng tháng sống trong rừng thiêng nước độc đói khát và bệnh tật, cô đơn giữa núi rừng hoang vu lạnh lẽo đầy hiểm nguy rình rập nơi đất khách quê người.Em mấy lần cứu tôi thoát lưỡi hái tử thần, tôi và em còn nhiều duyên nợ…tôi còn nợ em rất nhiều có lẽ đời này tôi không trả được.Nhiều lúc tôi không biết mình là, ai tôi muốn gì.Tôi sinh ra để làm gì, tại sao lại sinh ra trên cõi đời này, tôi sống để làm gì, có giúp được ai trong cuộc đời này?Tôi nhớ đứa con chưa biết mặt, không biết sau này lớn lên nó có oán hận tôi, tôi đã không làm được trách nhiệm người cha, không cho nó một gia đình hoàn thiện, đầy đủ.Tôi có ích kỷ, tôi có lỗi với mẹ và vợ, em có tha thứ cho tôi?Người con gái Khơmer có oán hận tôi đã lôi kéo em vào vòng oan nghiệt, bỏ rơi em trong lúc em cần tôi nhất. Em có hiểu và thông cảm cho tôi vì hoàn cảnh, tôi không muốn thế, tôi không thể làm trái tổ chức, không dám chống lại, tôi không đủ can đảm và dũng khí, tôi là kẻ hèn nhát, “quất ngựa truy phong”, bỏ em một mình vượt cạn không người ruột thịt thân thiết trên cõi đời!Tôi không biết có bao giờ gặp lại em, được nhìn thấy đứa con?    

Tôi đi như kẻ mộng du, chợt nhìn ra xa cánh đồng lúa xanh mơn mởn, nhấp nhô bóng người như cào cỏ hay bắt cua cá, có người đứng thẳng nhìn tôi chỉ trỏ, tôi  nghĩ không biết mẹ và vợ, có trong đó? Họ sẽ mừng khi thấy tôi trở về nguyên vẹn lành lặn.

Nhiều lần cận kề cái chết, nghĩ mẹ và vợ  đau khổ thất vọng, khi tôi nằm lại chiến trường, tuy xác định bước chân vào con đường binh nghiệp không thể tránh khỏi mất mát đau thương, chiến tranh là đầu rơi máu chảy, chí làm trai chết ngoài ngàn dặm, da ngựa bọc thây là niềm kiêu hãnh của  người anh hùng vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và nhân dân! Nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn họ, những người con ưu tú của Tổ quốc không tiếc máu xương bảo vệ mảnh đất ngàn năm văn hiến, cha ông bao đời gây dựng. Máu đào của họ tô thắm  ngọn cờ Tổ quốc, thịt xương họ vun đắp cho những cánh đồng lúa xanh tươi.

Tôi sắp ở bên mẹ và vợ, nhận sự chăm sóc vuốt ve chiều chuộng như trước kia, lòng  bồi hồi xúc động, trào dâng niềm hạnh phúc khó diễn tả.

Tôi  vẩn vơ suy nghĩ không để ý quán nước ngã ba bà béo, có lối rẽ con đường đất vào nhà, hồi nhỏ bọn trẻ con thường ra mua kẹo vừng, kẹo bột của bà. Không biết bà ngồi bán hàng từ bao giờ, từ hồi còn nhỏ đã thấy, ngày trước chỉ là ngôi lều, che phên nứa, lợp giấy dầu, sau  này con cháu xây cho bà ngôi nhà bằng gạch, lợp ngói, có một cái bàn gỗ, xung quanh kê ghế bằng gỗ cho khách ngồi, nếu đông có mấy ghế nhựa, ngồi tràn cả ra ngoài đường, một chiếc giường cá nhân để bà ngả lưng buổi trưa, hoặc lúc mệt mỏi.Thời gian đầu là cái quán duy nhất trong làng, vì người ta cấm buôn bán, sau này mở cửa mới có thêm nhiều quán trong làng. Tôi thấy bà sau bao năm vẫn thế như không già đi chút nào. Vẻ mặt phúc hậu, vui vẻ. Bà có một người con trai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh hơn tôi gần chục tuổi, hy sinh ngay cửa ngõ Sài Gòn trong mùa xuân 75, sắp giải phóng miền Nam.Trước khi vào Nam chiến đấu anh có vợ rất xinh nhưng chưa có con, không biết có phải vì thế mà nhiều người nhòm ngó?Nên mấy năm sau anh đi biền biệt không tin tức, chị có thai, bỏ đi đâu biệt tích, chắc không chịu được lời ong tiếng ve. Mặc dù nhà chồng không ai xua đuổi vì thông cảm hoàn cảnh của chị, bà béo cố sức níu giữ người con dâu xinh đẹp nết na chỉ vì một phút yếu lòng, bà nói tại cái tay “chó dái” trong làng, ai không biết hắn luôn rủ rê con gái vắng chồng, đàn bà con gái bóng lẻ phòng không ai chịu được. Nhiều người khen bà có lòng vị tha bao dung độ lượng, bà chỉ cười nói vào hoàn cảnh thế đến mình cũng chả chịu được, lòng vả cũng như lòng sung, tại chiến tranh nó mới ra thế, mọi người nên thông cảm. Bà nói người con dâu cứ yên tâm sinh đẻ và nuôi con, cá vào ao ai người ấy được. Nhưng một buổi sáng thức dậy bà không thấy người con dâu, bà hốt hoảng kêu người tìm kiếm cả ngày, khắp bụi tre xó chuối, cho người lội cả xuống con ao duy nhất trong làng xem chị ta có quẫn chí nhảy xuống trẫm mình. Tìm kiếm cả tuần không thấy. Có người trông thấy chị ra đi khỏi làng từ sớm  với cái nón mê và một gói nhỏ trên tay, nên mới tin chị  bỏ đi thật. Bà rất lo lắng sợ con trai về sẽ trách ở nhà không giữ chị lại. Năm sau con trai có giấy báo tử, nhưng rất lạ anh hy sinh đúng ngày chị bỏ đi. Từ hôm chị  bỏ đi con chó vàng nằm gục ở đầu nhà không chịu ăn uống gì cả, một tuần sau nó nằm chết dưới xó bếp sau khi sủa một tràng thảm thiết. Nhà bà béo chôn nó ngoài đồng đắp ngôi mộ như người chết, lúc còn ở nhà chị rất quý con chó luôn bầu bạn với nó cho đỡ cô đơn. Buổi tối nó hay nằm dưới chân giường chị như canh giữ cho chủ nhân khỏi bị kẻ xấu nhòm ngó trêu ghẹo.Từ ngày chị bỏ đi nó không nằm chỗ đó nữa, nó ra đầu nhà nằm như mong ngóng chị trở về, biết chị không trở về nó bỏ không ăn uống rồi chết!Từ đó có rất nhiều giai thoại đồn thổi về con chó. Có người nói từng trông thấy chị ôm con chó nằm trên giường vì chị nhớ chồng quá, chị thèm giống đực, nó là chó đực mà?Rồi có hôm bà béo vào buồng thấy trên giường, chị nằm ôm con chó bà hoảng quá, tưởng ma kêu toáng lên, người nhà chạy vào xem không thấy gì, nghĩ bà tưởng tượng ra, rồi có người  ban đêm vẫn nhìn thấy con chó vàng nằm trên ngôi mộ nó. Họ bảo đó là ma chó, người làng thêu dệt nhiều chuyện về con “ma chó”. 

Người ta lấy ma chó ra dọa trẻ con, dọa những đứa khóc nhè, nín đi không con ma chó về nó cắn đấy!Có lần tôi và người yêu đi chơi đêm về qua đoạn đường nó ngôi mộ chó, tôi trêu em có sợ ma chó?Em ngớ ra, tôi phải kể câu chuyện con chó có tình nghĩa như thế nào, em dỏng tai nói nghe có tiếng chó sủa từ xa vọng về hay của con ma chó, ừ có tiếng chó sủa thật, tôi cũng nghe thấy tiếng chó sủa như từ âm ty vọng lên.Em sợ quá bám riết lấy tôi, chúng tôi ôm chặt nhau đi nhanh qua quãng đường đó, về cả đêm suy nghĩ về con chó và con ma chó về tình cảm của nó với chủ. Vì lời đồn thổi nhiều đến tai chính quyền,người ta lấy cớ chống mê tín dị đoan cho san phảng ngôi mộ chó, không để lại dấu tích,nhưng nhiều người đi đêm vẫn nhìn thấy bóng con chó vàng lởn vởn khu vực có ngôi mộ của nó và ban đêm  người ta vẫn nghe tiếng chó sủa vang vọng âm u…     

Hồi đó tôi đang tuổi dậy thì rất thích nhìn phụ nữ đẹp, nhiều lúc gặp chị má ửng hồng rất thích, những đường cong trên cơ thể chị rất cuốn hút, làm tôi mê đắm nhưng biết chị coi tôi trẻ con nên không chú ý, khi đi ngang chị tôi vẫn chiểu cặp mắt vào chị, nhìn bộ ngực nở nang khêu gợi, cặp mông tròn lộ cả quần lót bên trong làm tôi ngơ ngẩn nhưng không biết mình muốn gì, tôi thấy nhiều ánh mắt đàn ông con trai nhìn chị say đắm, làm tôi rất tức, như ghen ghét, vì họ đều có vợ con cả rồi. Tôi thấy mình thích chị, cứ muốn đến gần nói chuyện với chị, có đêm tôi chiêm bao được ngủ với chị, sờ vú, sờ bướm chị, rồi chảy ướt hết quần lót, sáng dậy múi tanh lòm, phải vội vàng thay quần.Khi nhìn thấy bóng chị tôi xấu hổ mặt đỏ bừng. Từ ngày chị bỏ đi tôi thấy nhớ nhung xao xuyến trong lòng như tiếc nuối điều gì? Thỉnh thoảng tôi lại nằm mơ được ngủ với chị, tỉnh dậy thấy chỉ là giấc mơ lòng tiếc ngẩn ngơ cả buổi sáng đầu óc vơ vẩn.Tôi nhớ nhung chị như chính người thân của mình, phải công nhận chị đẹp hơn nhiều cô gái trẻ trong làng, dù lúc đó chị đã hai nhăm tuổi và  chờ chồng mấy năm rồi, nhưng chị không héo hắt như một số người vắng chồng cùng tuổi chị. Chị rực rỡ như bông hoa đang nở rộ, má hồng như hoa đào, dáng người thắt đáy lưng ong đi lại rất uyển chuyển, nhẹ nhàng thanh thoát, nụ cười rất tươi, rạng rỡ. Nếu không có chiến tranh chị sẽ rất hạnh phúc. Mặc dù bị coi chửa hoang nhưng không ai ghét bỏ chị, chỉ một vài cô gái ghen ghét sắc đẹp dè bỉu, nó là lẽ thường.Cả làng luyến tiếc khi chị bỏ đi biệt tích, chị không phải người làng tôi, quê chị ở xã khác cách làng gần chục cây số. Nhiều lúc tôi tò mò muốn biết anh chị yêu nhau thế nào?Chồng chị cũng rất đẹp trai và có nhiều tài lẻ, tôi cảm thấy rất tiếc cho họ, chiến tranh đã chia rẽ họ đẩy chị vào bi kịch cuộc đời; đã phá hoại bao hạnh phúc lứa đôi.Hồng nhan bạc mệnh, người ta nói thế khi có ai nhắc về chị.  

 

Hồi chưa đi chiến đấu tôi hay ra uống nước chè sau bữa cơm chiều, chợt có tiếng gọi:

 -Có phải cậu Tâm con bà Hằng đấy không?

Tôi quay đầu lại, bà béo trong quán nước bước ra, sững sờ nhìn  từ đầu đến chân, vuốt ve cánh tay tôi:

-         Đúng rồi! Cậu Tâm con bà Hằng đây.

-Tâm con bà Hằng báo tử rồi?

-Thì rành rành thằng Tâm đây, cháu là người hay là ma?

Vài người trong quán chạy ra kéo tôi vào, bà béo rót cho tôi chén nước chè đặc quánh hương vị quen thuộc, dù mấy năm không  thưởng thức tôi vẫn nhớ, bà béo nhìn tôi dò xét:

          -Thế thì mẹ cháu mừng lắm, nhưng…

Tiếng nhưng đọng lại ở thanh quản khiến nét mặt mọi người dãn ra, im bặt, họ đưa mắt cho nhau, linh tính của người lính trinh sát bao nhiêu năm cho biết có điều bất thường?

          Bà béo phá tan bầu không khí im lặng, giọng rành rẽ:

-Thôi ! Chốc về nhà cháu sẽ rõ, nhưng phải bình tĩnh, việc đâu có đó, do hoàn cảnh, không ai muốn, cháu còn sống về là may mắn phúc đức, sẽ làm lại từ đầu, đời còn dài, không lo gì?Cứ bình tĩnh cháu nhé! Phải thông cảm cho mẹ và vợ, do số phận phải chịu, chẳng ai muốn thế, số phận nghiệt ngã quá.

          Không ai góp lời, họ nhìn tôi ái ngại thở dài, tôi không biết chuyện gì mà mọi người lấp lửng nửa kín nửa hở, vòng vo Tam Quốc?

Nhìn ánh mắt nghi ngờ, dò xét, thương xót, tôi hoang mang lo lắng, không biết có chuyện gì, hay vợ tôi không chung thủy, hay quan hệ mẹ chồng con dâu không tốt khi tôi đi vắng?Tôi chợt nhớ chuyện con dâu bà béo, không biết bây giờ chị ở đâu, sống chết ra sao, từ ngày bỏ đi không ai biết tin về chị, đứa con nếu được sinh ra giờ hơn mười tuổi rồi.Hay vợ tôi rời vào hoàn cảnh giống chị?Tôi ngó nhìn cánh đồng có ngôi mộ chó, không nhớ nó ở quãng nào, vợ tôi cũng thích nuôi chó và yêu quý chó, con chó nhà tôi khi tôi nhập ngũ là con chó đen tuyền không biết có còn, nó là chó đẻ, hồi tôi ở nhà nó đẻ vài lứa.

Nghe giọng úp mở của bà béo lòng tôi như lửa đốt, muốn về nhà ngay xem sự thể ra sao?

          Tôi chào mọi người, xin phép ra về, khoác ba lô nặng chĩu trên vai, bước chân lâng châng vô định hoang mang cực độ.Tôi phải chuẩn bị tư thế đón nhận mọi điều tệ hại nhất có thể xảy ra. Khi ở chiến trường tôi luôn chuẩn bị tư tưởng đón nhận cái chết bất kỳ lúc nào, tôi chỉ lo mẹ và vợ ở nhà, tôi gặp nhiều cảnh ngộ, số phận  tủi nhục và bất hạnh trên đất nước Campuchia đau thương nhất trong thế kỷ hai mươi, chưa từng thấy trong lịch sử loài người.

          Cuộc đời con người từ đỉnh cao hạnh phúc rơi xuống vực thẳm bất hạnh  trong gang tấc, ranh giới hai thái cực như sợi chỉ mỏng manh.

 

 

 

2-Vương quốc Khơ-me ra đời cuối thế kỷ 9 trên lãnh thổ của Phù Nam và Chân Lạp, kinh đô là Angkor.Từ thế kỷ 9-13,phát triển cực thịnh với nền văn minh Angkor nổi tiếng thế giới.Từ thế kỷ 13-19, các cuộc nội chiến và xâm lược của ngoại bang làm suy yếu…

Người ta biết nước Phù Nam nhờ những ghi chép của thư tịch cổ Trung Hoa như Lương thư ( sử nhà Lương 502-556)

Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn ở phía Tây biển. Cách Nhật Nam chừng 7000 lý và cách Lâm Âp hơn 3000 lý về phía Tây Nam. Đô thành cách biển 500 lý. Một con sông lớn từ Tây Bắc chảy về phía Đông đổ ra biển. Nước rộng hơn 3000 lý. Đất đai bằng phẳng và thấp, khí hậu phong tục giống Lâm Ấp.

Trong Tấn thư viết: Đất rộng 3000 lý, có nhiều thành phố xây tường, có lâu đài và nhà ở. Đàn ông xấu và đen, cuốn tóc ở trần và đi chân đất.Tính đơn giản không gian lận trộm cắp. Họ chăm công việc nhà nông, gieo một năm gặt ba năm. Thích trang trí bằng điêu khắc. Chữ viết giống người Hồ. Ma chay cưới hỏi giống Lâm Ấp.

Theo truyền thuyết cổ ghi chép bởi Khang Thái( Kang Tai), một quan lại Trung Hoa tới Phù Nam giữa thế kỷ 3, xứ này do một phụ nữ tên Liễu Diệp( Liu Yeh) cai trị. Sau đó một người nước ngoài là Hỗn Điền(Hun Tiên) có thể từ Ấn Độ sang cưới Liễu Diệp  lập một triều đại tại đây.Theo truyền thuyết địa phương vị ẩn sĩ Ấn Độ này tên Kambu đã kết hôn với nữ thần Mera và con cháu của họ gọi là Kambuja( con cháu của Kanmbu) và tên ghép của hai vợ chồng thành tên của dân tộc là Kambu-Mera, Kmr hay Khmer.

          Thực sự Phù Nam là quốc gia hỗn hợp nhiều tộc người khác nhau, do một xứ Phù Nam chánh tông nắm địa vị tôn chủ, các tiểu quốc kia phải cống nạp cho nó.

Vào thế kỷ 5 tài liệu Trung Hoa có nói tới một ông vua là Trì Lê Đà Bạt Ma ở ngôi từ 424-438 rồi tới Đồ Da Bạt Ma và Lưu Đà Bạt Ma. Thư tịch cổ còn nói sau đó Phù Nam bị nước khác ở phía Bắc đánh bại( cuối thế kỷ 6, giữa thế kỷ 7). Phù Nam tới đây chấm dứt.

Nước đánh bại Phù Nam là Chân Lạp, một quốc gia do người Khmer sáng lập.Trung tâm của họ nằm ở Sae Mun( nay thuộc Thái Lan) và Champasack ( nay thuộc Nam Lào). Quốc gia này do Bhavavarman sáng lập trong thế kỷ thé 6, gọi là nước Bhavapura, tức Chân Lạp.

          Bhavavarman đã chấm dứt lệ thuộc Phù Nam. Sau khi ông mất, con ông là Mahendravaman lên ngôi và tấn công Phù Nam, buộc vua Phù Nam phải chạy trốn tới Naravana.Isanavarman kế ngôi Mahendravarman, tiếp tục tấn công, “Với sức mạnh của mình đã vượt qua ranh giới lãnh thổ của tổ tiên”. Các vua thất trận phải bỏ chạy ra vùng hải đảo.

          Jayavarman I Lật đổ Isanavarman cai trị một lãnh thổ rộng lớn. Bia ký của ông được tìm thấy trên một vùng lãnh thổ bao gồm cả Sae Mun, Battambang, Seam Reap, Kompong Thom, Takeo, PreyVeng và Kampot.

          Sau khi đánh thắng Phù Nam, người Chân Lạp đã ồ ạt di cư xuống phía Nam. Họ dừng lại ở Takeo (cụm di tích Ang kor Borey) và Prey Veng (cụm di tích Ba Phnom), trung lưu sông Mekong và Đông Bắc Biển Hồ. Isanavarman xây dựng kinh đô Isanapura ở gần Kompong Thom.Theo Tùy thư của Trung Hoa nơi đây có  20.000 gia đình sinh sống.

 

 

Jayavarman qua đời năm 680. Hoàng hậu Jayadevi, nắm quyền trong khoảng 681-713, gây bất bình trong giới quý tộc và quan lại. Do những mâu thuẫn này mà năm 713, Puskaraksa đã phế truất bà và tự lên ngôi, lập kinh đô mới Sambhupura ở gần Sambaur.

          Do sự biến này phần phía Bắc của vương quốc( tức nước Bhavapura cũ) tách ra khỏi Chân Lạp, lập lại nước riêng. Tài liệu Trung Hoa ghi là nước chia làm hai: Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp. Biên giới nằm ở núi Dang Reak ( nay là biên giới Thái Lan- Campuchia).

          Ở phía Nam, Puskaraksa không thể kiểm soát nổi lãnh thổ của mình. Nhiều nơi tự nổi lên lập nước  riêng. Trong lúc đó vương triều Sailendra của nước Kalinga ở đảo Java Indonresia mạnh đã tấn công vương quốc của Puskaraksa năm 774, chiếm được kinh đô Sambhupura và đẩy đất nước này tới diệt vong.

 

                             ***

 

Đầu thế kỷ thứ 9,khi vương triều Sailendra suy yếu, một người trong hoàng tộc Chân Lạp bị bắt làm tù binh trốn về nước,tập hợp lực lượng đấu tranh thóat ra khỏi ảnh hưởng của Sailendra và thống nhất lại Campuchia, khởi đầu một đế chế hùng mạnh ở Đông Nam Á- đế quốc Khme (802-1434). Ông lên ngôi vua, lấy hiệu là Jayavarman II.

          Jayavarman II cố công tìm kiếm một địa điểm mới đặt kinh đô. Trong thời của ông,vương quốc dời đô nhiều lần,từ Indrapura cho tới Hariharalaya và Mahendrapura ở núi Kulen rồi lại quay trở lại Hariharalaya.

          Thời kỳ Jayavarman II tại vị, sự sùng bái thần Shiva có khuynh hướng biến thành sùng bái nhà vua. Do đó ông cũng được tôn sùng như một vị thần. K         hi ông qua đời năm 854, người ta phong ông danh hiệu Paramesvara tức “Chúa tể”.

          Cháu của Jayavarman II LàYasovarman I Cai trị từ 889-900 lại tiếp tục dời đô thêm 50 km,tại nơi ông gọi là Yasohadrapura tức Angkor. Biến âm từ chữ phạn Nagara từ “Quốc đô”.Đế quốc Khmer vì thế còn được gọi là vương quốc Angkor, đế quốc Angkor.

 

 

          Rajendravarman II lên ngôi năm 944 được thừa kế cả hai dòng Khmer Nam và Bắc. Ông là con Mahendravar man thuộc hoàng tộc Bhavapura9 ( phía Bắc) và Mhendradevi, dì ruột của Harsavarman II ( 942-944) ,Vua của dòng Nam. Do sự kiện này hai dòng tộc Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp thống nhất lại.

Các văn bia thời kỳ này đều nhấn mạnh nguồn gốc tộc Mặt trời

(Suryavamsa) phía Bắc và tộc Mặt trăng ( Somavamsa) phía Nam của vương triều.Tên nước được xác định là Kambuja và vua là Kambujaraja.

          Tuy tái thống nhất nhưng giữa hai dòng tộc luôn có mâu thuẫn về quyền lợi. Năm 1002, Jayviravarman II lên ngôi ở Angkor tại miền Nam thì một hoàng thân khác cũng tự lên ngôi ở Sae Mun phía Bắc là Suryavarman I. Năm 1010,Suryavarman I lật đổ vua phiá Nam rồi làm vua cả hai miền. Năm 1082, Jayvarman VI tự lên ngôi, Sae Mun cũng đem quân lật đổ vua ở Angkor và cai trị vương quốc từ 1082 đến 1107.

          Tuy nhiên về sau thế lực của nhóm phía Bắc ở Sae Mun dần suy yếu không còn là đối trọng với phía Nam. Cuối thế kỷ 12, các văn bia chỉ còn nhắc tới một tộc Kambu Mặt trời nhưng di cư xuống phía Nam.

          Do thống nhất và ổn định, Rajendravar man II vừa lên ngôi đem quân sang đánh Champa. SuryavarmanII( 1002-1050) Còn tiến xa hơn, chinh phục cả trung và hạ lưu Chao Phya ( sông Mae Nam nay thuộc Thái Lan) và cao nguyên Korat. HarsavarmanII  1066-1080) đánh Champa và Đại Việt. Tới thời Suryavarman II

(1113-1150) vương quốc chinh phục được Champa và trong khoảng 1145-1149 và 5 lần đem quân đánh Đại Việt (1128,1129,1132,1138,1150).

          Sau cuộc tranh ngôi năm1010, kinh đô bị hư hại nặng, Suryavarman đã cho tiến hành xây dựng Angkor Wat như là một biểu tượng sức mạnh của vương triều.

 

 

          Sau khi Suryavarman II qua đời, ngôi vua bị một người lạ tự xưng là Tribhuvanadi, tứcTyavarman đánh cướp năm 1165 khiến quốc gia suy yếu.Năm 1177, Jây IndravarmanV của Champa thừa cơ tấn công Angkor. Một hoàng thân trẻ phải chờ đợi trong 16 năm mới tập hợp được lực lượng đánh bại Champa và lên ngôi vua năm 1181, tức Jayavarman VII.

          Trong thời kỳ cai trị của mình vương quốc Campuchia đạt tới đỉnh cao của sự phát triển.Sau vài năm khôi phục vương quốc, Jayavar man VII tính chuyện trả thù Champa. Năm 1190, Jayavar man VII cử một đạo binh lớn tấn công Champa và đánh bại hoàn toàn người Chăm. Một hoàng thân được cử tới cai trị, Champa trở thành một tỉnh của Chân Lạp trong một thời gian dài. Ông còn thôn tính cả Haripunjaya gần biên giới Miến Điện – Thái Lan và bán đảo Malaya.. Có thể quân Chân Lạp còn tới cả Luang Prabang ở Lào nữa.

          Vương quốc Chân Lạp dưới thời Jayavar man VII có 23 tỉnh. Để cai trị đất nước rộng lớn, ông cho xây 121 trạm nghỉ

(Dhar masala) dọc theo các tuyến giao thông quan trọng ngày nay vẫn còn dấu tích trên tuyến đường nối Angkor với Pimai ở Thái Lan và tháp đền ở Champa.

Không rõ Jayavar man VII qua đời năm nào, con trai ông là Indravar man II lên thay thế sau năm 1201 và cai trị tới năm 1243.

          Trong những năm cai trị đầu tiên của Indravar man II, đế quốc Khmer từng ba lần giao chiến với Đại Việt trong các năm 1207, 1216, 1218. Sau năm 1218 không thấy đế quốc Khme có chiến tranh với các quốc gia khác trong khu vực nữa. Năm 1220, đế quốc Khmer còn lui quân khỏi Champa mà không có bất kỳ sự đấu tranh hay biến động nào từ Champa?

          Ở phía Tây, những tộc người Thái nổi dậy, thành lập vương quốc Sukhothai, đẩy lui người Khmer. Trong khoảng 200 năm tiếp theo, người Thái trở thành đối thủ chính của người Khmer. Nối ngôi Indravar man II là Jayavar man VIII ( trị vì từ 1243- 1295). Không như các vua trước, ông theo dạo Hindu và  quá khích chống đạo Phật. Ông phá hủy phần lớn các tượng Phật trong vương quốc ( các nhà khảo cổ ước tính trên 10 ngàn tượng Phật bị phá hủy, chỉ để lại rất ít dấu tích) và biến chùa chiền thành đền thờ của đạo Hindu. Từ bên ngoài, đế quốc này bị đe dọa bởi quân Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của tướng Sagatu. Nhà vua tìm cách tránh nạn binh đao bằng cách triều cống cho người Mông Cổ, lúc này đang làm chủ Trung Quốc. Triều đại của Jayavar man VIII kết thúc năm 1295 khi ông bị con rể là Sridravar man ( trị vì từ 1295- 1309) lật đổ. Tân vương là người theo Phật giáo Theravada, là trường phái Phật giáo đến từ Sri Lanka, rồi lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á.

          Sau thời kỳ trị vì của Srindravar man, có rất ít tư liệu ghi lại lịch sử vương quốc thời kỳ này. Cột đá cuối cùng mang văn khắc được biết đến là năm 1327. Không có đền đài lớn nào được xây dựng thêm. Các nhà sử học cho rằng điều này gắn liền với tín ngưỡng Phật giáo Theravada vốn không đòi hỏi việc xây cất các công trình vĩ đại để thờ phụng?

          Tuy nhiên, việc vắng bóng các công trình lăng tẩm lớn còn có thể do quyền uy của triều đình suy giảm và thiếu nhân công xây dựng. Các công trình thủy lợi cũng dần đổ nát, mùa màng thất bát khi có lũ lụt hoặc hạn hán, làm đế quốc suy yếu.

          Quốc gia Thái láng giềng, vương quốc Sukhothai, sau khi đẩy lùi đế quốc Angkor, bị một vương quốc Thái khác, vương quốc Ayutthaya chinh phục năm 1350. Từ sau năm 1352, Ayutthaya trở thành đối thủ chính của Angkor. Họ mở nhiều chiến dịch tấn công Khmer, nhưng đều bị đẩy lùi.

          Đến năm 1431, sức mạnh áp đảo của Ayutthaya trở nên quá mạnh không thể chống lại, Angkor thất thủ trước quân Thái.

 

                             ***

         

Từ thế kỷ 15- 19 là giai đoạn suy tàn và thu hẹp đất đai. Từ giữa thế kỷ 15, Campuchia liên tục bị các cuộc xâm lăng của vương quốc Ayutthaya ( Thái Lan cổ) tàn phá. Angkor liên tục bị chiếm đóng và tàn phá. Để duy trì sự tồn tại của vương quốc Khmer, vua Ang Chan I ( 1516-1567) phải chuyển kinh đô từ Angkor về Lovek.

          Campuchia có được một giai đoạn thịnh vượng ngắn, trong khoảng giữa thế kỷ 16 sau khi xây dựng thủ đô Lovek mới ở vùng đông nam Tonle Sap. Dọc theo lưu vực sông Cửu Long, Chân Lạp mở rộng buôn bán với các vùng khác ở châu Á. Đây là giai đoạn khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha là Blas Rui de Hernan Gonzales và Diogo Veloso, lần đầu tiên tới nước này và mở rộng ảnh hưởng của phương Tây…

          Năm 1594, vương quốc Ayutthaya của người Thái một lần nữa tấn công Chân Lạp, tàn phá Lovek. Vua Satha của Campuchia phải chạy trốn.Sự sụp đổ của Lovek bắt đầu một thảm họa mà Campuchia không bao giờ đứng dậy được nữa, đồng thời tạo cơ hội cho người Tây Ban Nha can thiệp.

          Năm 1596, Blas Ruiz de Hernan Gonzales và Diogo Veloso giúp vua Satha quay về Campuchia lấy lại Lovek. Năm 1598 sự can thiệp của người Tây Ban Nha cũng chấm dứt, do đoàn quân này bị sát hại cùng với vua Satha trong nội chiến giữa những người Khmer với nhau.

          Sang đầu thế kỷ 17, Campuchia có sự ổn định đôi chút dưới thời vua Chay Chettha II, tuy không thể bằng các thời kỳ trước đặc biệt thời Angkor, với việc thành lập thủ đô mới tại Oudong năm 1618. Vua Chay Chettha II Dã mở rộng quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong của Việt Nam, để cân bằng ảnh hưởng từ vương quốc Ayutthaya của Thái Lan. Đồng thời ông cũng giao thương với người Hà Lan, cho họ mở một nhà máy ở Oudong năm 1620.

Từ giữa thế kỷ 17 trở đi, Campuchia nằm trong vùng ảnh hưởng của Xiêm và Đàng Trong ( Việt Nam).Khi người Pháp tới Đông Dương bảo hộ Campuchia từ năm 1863 đã dần lấy lại lãnh thổ Battambang, Siem Reap từ Xiêm La.

 

                                      ***

          Năm 1863 vua Norodom ký một hiệp ước với Pháp thành lập một chính quyền bảo hộ trên toàn vương quốc. Dần dần đất nước này rơi vào quyền cai trị của thuộc địa của Pháp.

          Năm 1906, Pháp gây chiến với Xiêm và giành lại bốn tỉnh vùng Tây Bắc từng bị người Xiêm chiếm trong thế kỷ 18, 19 là Battambang, Siem Reap, Meanchey, Oddar

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, người Nhật cho phép chính phủ Pháp (chính phủ Vichy) đang hợp tác với Đức phát xít tiếp tục cai quản Campuchia và các lãnh thổ Đông Dương khác, họ cũng nuôi dưỡng chủ nghĩa quốc gia Khmer.

Campuchia lại được hưởng một thời kỳ độc lập ngắn. Năm 1945, trước khi quân đồng minh tái lập quyền kiểm soát của Pháp. Vua Norodom Sihanouk, người được Pháp lựa chọn kế vị vua Monivong năm 1941, nhanh chóng chiếm lấy vị trí chính trị trung tâm khi ông tìm cách trung lập hóa những người cánh tả và những đối thủ cộng hòa và cố gắng đàm phán những điều kiện có thể chấp nhận giành  độc lập từ tay người Pháp. “Cuộc thập tự chinh giành độc lập” của Sihanouk dẫn tới việc người Pháp miễn cưỡng bằng lòng trao lại chủ quyền cho ông. Một thỏa thuận từng phần được đưa ra tháng 10 năm 1953.

Sau đó Sihanouk tuyên bố rằng công việc đòi độc lập đã hoàn thành thắng lợi và trở về Phnom Penh.

Ngày 9-11-1953, Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Campuchia. Tháng 4-1955, Sihanouk thoái vị nhường ngôi Vua cho cha là Norodom Suramarith để thành lập Cộng đồng xã hội bình dân. Trong cuộc tuyển cử 9-1955, Cộng đồng xã hội bình dân giành được thắng lợi lớn, Sihanouk trở thành Thủ tướng, mọi quyền lực tập trung vào tay ông. Năm 1960, Quốc vương Norodom Suramarith qua đời, Sihanouk được quốc hội bầu làm Quốc trưởng Campuchia.

Trong những năm sáu mươi, Sihanouk giúp Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, cho mượn lãnh thổ lập căn cứ địa, mượn cảng biển nhập hàng hóa khi cảng Việt Nam bị phong tỏa vì thế ngày 18-3-1970 Lon Nol-Siric Matak, được sự hậu thuẫn của Mỹ đảo chính lật đổ Sihanok, thành lập “Cộng hòa  Khơ-me”( tháng 10-1970).

Sihanouk và Hoàng tộc sang cư trú tại Trung Quốc và sau đó thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc Campuchia( FUNK) và Chính phủ Đoàn kết dân tộc Vương quốc Campuchia ( GRUNK) đặt trụ sở tại Bắc Kinh.

Ngày 17-4-1975, Pol Pot lật đổ chế độ cộng hòa của Lon Nol thành lập nước “Campuchia dân chủ”, thực hiện chế độ diệt chủng tàn khốc nhất trong lịch sử Campuchia, và trong thế kỷ 20, bị cả loài người lên án…

Ngày 2-12-1978, Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia ra đời do ông Heng Samrin làm Chủ tịch. Ngày 7-1-1979, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân Campuchia đứng lên lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot- Ieeng Xary, thành lập nước “Cộng hòa Nhân dân Campuchia”, năm 1989 đổi thành “ Nhà nước Campuchia” ( SOS)

 

 (BẢN ĐỒ CAMPUCHIA BẰNG SỌ NGƯỜI)

 

 

Người đăng tin: Lê Văn Thọ

Tác giả bài viết: LÊ VĂN THỌ-HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước