TIỂU THUYẾT :VỤ ÁN HAI NGÀN NGÀY OAN TRÁI-10 [Tiểu thuyết]

Thứ năm - 17/09/2015 10:27

               10 - 18 năm sau vụ án “Hai ngàn ngày oan trái”. 1.  Phóng viên báo tiền phong tìm đến nhà riêng Nguyễn Sỹ Lúy ở xóm Bình Liêu, Nghĩa Bình. Họ gặp Lúy ngồi trong bếp, ghế nồi cám lợn sôi sù...

 


 



 


 



 


 


   10 - 18 năm sau vụ án “Hai ngàn ngày oan trái”.

1.  Phóng viên báo tiền phong tìm đến nhà riêng Nguyễn Sỹ Lúy ở xóm Bình Liêu, Nghĩa Bình.

Họ gặp Lúy ngồi trong bếp, ghế nồi cám lợn sôi sùng sục. Anh níu bức tường nhà bếp loạng choạng đứng dậy, mới 45 tuổi tóc anh bạc, chân yếu.

Anh không kể vụ án năm xưa và những ngày tù, dĩ vãng đau đớn, anh kể  cuộc sống của gia đình trong 18 năm sau bản án ấy.

Ngôi nhà ngói ba gian, mới xây năm 1999 là kết quả tần tảo khéo léo làm ăn của chị Liên, vợ anh, sự góp công của anh.

Sau khi được minh oan , anh về làm kinh tế, nuôi dạy con. Họ hỏi sao không trở lại trường Đại học.

Anh nói:

- Sau khi ra tù, trường có giấy gọi vào làm việc sẽ cho đi học bồi dưỡng kiến thức. Nhưng mình nhận thấy không thể tiếp tục dạy học, phần do 5 năm tù kiến thức mai một, phần vì mặc cảm. Làm thầy giáo, đứng trên bục giảng giáo dục dạy dỗ học sinh, ngoài dạy kiến thức chuyên môn phải có cái nhìn lạc quan yêu đời.

Sau những năm tháng ở tù, mình có cái nhìn tiêu cực, u ám, mất lòng tin. Nếu tiếp tục dạy học sợ làm hại xã hội, hại chính mình. Công ty cao su Phú Cường mời vào làm việc. Anh đã đồng ý, nhưng đến ngày liên hoan để đi, anh đổ bệnh. Năm 1990 chân và tay phải bị liệt. Vài năm gần đây, mới nhúc nhắc  với sự giúp đỡ của cái nạng gỗ. Anh nói:

- Giờ làm nghề tinh xảo không được, tay không viết được. Cũng may mình có khiếu kinh doanh, ở nhà vạch phương hướng cho vợ con, không làm được việc nặng, Lúy ở nhà dạy con và “cai quản” bầy gia súc, gia cầm.

Trong ngôi nhà ba gian, đồ đạc đơn sơ giản dị, nhưng Lúy rất phấn khởi. Anh vui vẻ  kể  ba đứa con, hai gái một trai,  học hành tử tế. Ngày anh đi tù, đứa con gái đầu mới 4 tháng tuổi, giờ là sinh viên ĐHKH và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhắc đến con anh nhớ lại một kỷ niệm buồn ngày đi tù.

Hôm đó anh được vợ và con gái đến thăm. Bao nhiêu tình cảm yêu thương  dành cho đứa con gái hơn hai năm, dồn nén bừng lên trong anh. Anh lao về phòng khách với tình cảm ngọt ngào trong lòng. Mừng đứa con sẽ chạy đến sà vào lòng anh gọi “cha”. Nhưng bẽ bàng, con gái không nhận cha. Nó lùi lại khi nhận thấy sự xuất hiện của anh, sợ lùi nép vào nách mẹ.

Sau lần đó, anh ngã bệnh. Khi khỏi lại rơi vào hoảng loạn, đòn tinh thần quật ngã anh nửa năm trời. Sau khi ra tù vợ chồng anh sinh được cô bé thứ hai và cậu út, đứa lớp 7, đứa lớp 4, chăm ngoan và học giỏi.

Anh tâm sự :

-Điều mình mong muốn nhất là đời con cái được tốt đẹp.

Vừa lúc chị Liên đi chợ về, chị bảo anh ngồi chơi với khách, chị xuống bếp. Một lúc chị dọn ra mâm cơm.

Trong bữa ăn, anh kể nhiều sự tần tảo của vợ, chị vừa làm đậu phụ, giò, chả, vùa chạy chợ, những việc  nặng nhọc trong nhà, một tay chị cáng đáng xoay sở. Anh không giúp được gì.

Chị nhìn anh với ánh mắt thương yêu, chị nói cũng may trời thương cho sức khỏe, mọi việc làm được. Chỉ mong anh Lúy đỡ bệnh vui khỏe là yên tâm làm ăn, nhìn chị, bao năm tháng lo toan vất vả, vẫn không mất nét đẹp đằm thắm mặn mà.

Nhớ lại những năm tháng đen tối bị ép vào vòng oan trái, chị vẫn giữ lòng chung thủy với anh, trước bao lời ong bướm, vợ chồng vẫn yêu thương nhau hơn bao giờ. Nguyễn Sỹ Lúy nói một câu chân lý:

- Đối với mỗi người điều quan trọng nhất, nhận ra mình là ai, để sống cho đúng, không hổ thẹn với lương tâm, giữ được tấm lòng trong sạch, không vụ lợi. Không hận thù, bỏ qua lỗi lầm người khác, từ bỏ quá khứ đau buồn hướng về tương lai.

Lúy đã sống như thế 18 năm sau bản án ấy, anh vươn lên bằng ý chí và nghị lực của mình. Anh không đòi hỏi đền bù, bồi thường những năm tháng bị tù oan. Anh biết có đòi không được vì chưa có chế độ chính sách, thủ tục hành chính còn nhiêu khê phức tạp. Anh sống bằng sức lao động, bàn tay khối óc của mình cho thanh thản, lương tâm trong sạch, làm gương cho con cái.

 

2. Phóng viên hỏi đường về nhà anh Cao Tiến Mỳ, cô hàng xóm ở thị trấn Lạt, chỉ tay về làng Dương Hiệp. Sau vụ án “Hai ngàn ngày oan trái”, tiếng tăm Cao Tiến Mỳ, người cứu Nguyễn Sỹ Lúy thoát tù  nổi tiếng khắp nơi.

Cao Tiến Mỳ nói:

- Mình và Lúy gặp nhau ở trại Nghi Sơn, mình hỏi cậu nhỏ nhỏ que thế, cũng giết người?

Lúy ôm mặt khóc kêu oan, mình hỏi:

- Biết oan sao nhận tội, vơ vào cái án tù?

 Lúy nói:

- Em phải nhận tội cứu cha. Cha em rất yếu nếu bị giam lần này, sợ ông chết trong tù.

Lúy kể lại sự việc, nghe xong Mỳ nói:

- Ra tù mình sẽ tìm cách minh oan cho cậu.

 Mỳ được tự do trước, hôm đi gặp Bùi Văn Lưu trời rất rét, anh phải mượn áo ấm của vợ đi “hỏi cung”. Chính Lưu là kẻ phạm tội, cầm giao giết em khi thấy mình xưng “Cán bộ công an” từ Hà Nội về, hắn tỏ ra bối rối. Nhưng vẫn cứng đầu phủ nhận. Đấu tranh quyết liệt mãi, Lưu mới thú nhận. Mỳ đề nghị Lưu viết “Bản tự thú” và “Bản khai tang vật” để làm chứng trước cơ quan pháp luật.

Sau khi lấy cung Bùi Văn Lưu, Mỳ lặn lội ra Hà Nội đem hai bản khai nộp cơ quan pháp luật. Một cán bộ đập bàn quát:

- Ai cho anh đóng giả cán bộ Nhà nước?

Mỳ hơi run, chắp tay cung kính:

-Tôi thấy người ngay bị tù oan, tìm cách giúp, tôi đóng giả sao được, tôi có làm giả giấy tờ hay mặc sắc phục công an? Tôi biết nếu nói mình là dân thường, anh ta sẽ không nhận tội nên mạo muội nói chứ đóng giả ai, việc cứu người là quan trọng, người dân có quyền chứng minh cho mình và người khác không phạm tội. Luật pháp quy định người dân có quyền tự minh oan, nhưng không bắt buộc. Các cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh oan sai cho người dân. Các ông là người có quyền. Gia đình ông Hoành kêu oan mấy năm trời. Các ông toàn hứa hẹn, không làm gì?

Để người oan ức đau khổ trong tù, tôi là người dân, không có trách nhiệm phải làm việc ấy, nhưng vì thương người tù oan, ăn cơm nhà để giúp dân, tôi không có tội.

Vị cán bộ lúc đầu nổi nóng, do tự ái sĩ diện cá nhân, sau thấy Mỳ có lý, đấu dịu và nể phục.

Phóng viên hỏi:

- Sau vụ án “Hai ngàn ngày oan trái” anh có làm vụ nào?

-         Có, ngày đó dân kéo đến rất đông người ta nhờ vả tôi làm đủ chuyện, cứ như tôi là Thánh không bằng?

Họ kéo đến đông, có hôm tôi phải trốn đi. Tôi ra Thái Bình làm vụ “Nụ hôn đứt lưỡi”, làm đến nửa chừng, đương sự mất, đành bỏ dở, có phóng viên đăng mấy bài báo: “Nụ hôn đứt lưỡi” trên Tiền Phong.

Mới gặp nhau lần đầu với Cao Tiến Mỹ như quen thân từ lâu, chân tình, nhiệt tình là bản chất anh nông dân quê mùa mộc mạc, anh sinh năm 1953 vợ kém anh 3 tuổi. Hôm phóng viên đến chị đi Thành phố Hồ Chí Minh thăm con gái Cao thị Thanh, làm ở liên doanh giày da xuất khẩu, cậu con trai cả vừa đi cày về, nằm trên chõng tre ngủ ngon lành.

Mới hơn tứ tuần, trông anh gầy guộc, khắc khổ, già trước tuổi, chân tay khẳng khiu. Da đen bóng như gỗ lim. Mái tóc cắt cua, cứng như rễ tre, lốm đốm bạc. Anh nói, gia đình tôi có 5 khẩu, được chia 4 sào ruộng. Mỗi năm 2 vụ thu dược 4 tạ thóc làm sao sống đủ. Vợ chồng phải vỡ vạc trồng thêm rau, xây chuồng nuôi gà lợn, quần quật, không đủ ăn, phải nhờ tiền cứu trợ cháu Thanh từ miền Nam gửi ra.“Người hùng phá án”, nổi danh một thời, nay sống đạm bạc trong căn nhà nghèo nàn ở xóm đầu làng Dương Hiệp. Sáng dậy thật sớm lót dạ bằng củ khoai, củ sắn, có hôm nhịn đói vác cày ra đồng.

Chiều tối mấy cha con chia nhau bát cơm độn khoai sắn, tối đi xem nhờ ti vi hàng xóm.

Cuộc sống nhà quê lặp đi lặp lại một giai điệu trầm bổng, có lúc anh hăng lên lãng mạng lắm. Anh thủ thỉ tâm tình:

- Tôi muốn viết một cuốn sách về đời mình, về những ngày gian nan đi phá án “Hai ngàn ngày oan trái”, làm kỷ niệm cho con cháu sau này, nói thế thôi ngồi viết lại chuyện ra tấm ra món gian nan lắm, khó lắm. Mình là dân cày hợp với con trâu cái cày. Cầm bút khó khăn lắm. Không làm được. Mong sau này có nhà văn nào quan tâm họ viết.

- Anh có hay gặp Lúy?

-Thỉnh thoảng bọn mình qua lại thăm nhau. Từ hôm Lúy bị liệt đi lại khó khăn, tình cảm thiêng liêng giữa tôi và Lúy không bao giờ hết. còn giữ đến đời con cháu sau này.

Từ nơi anh Mỳ đến nhà anh Lúy cả đi về mất  200 cây số. Anh Mỳ trong tay không có phương tiện, có cái xe đạp cọc cạch nay thủng săm, mai sang vành không dùng được. Quanh năm không đi xa, hết ra đồng lại về nhà.

Căn nhà xây năm 1990, thiếu thốn mọi bề. Hồi đó cuộc sống gia đình anh rất khó khăn. Xây nhà phải vay gạch, xi măng , gỗ của bà con hàng xóm, đến mùa trả dần.

Đồ đạc có chiếc trõng tre ọp ẹp. Cái bàn uống nước phải gá vào tường vì lung lay, mộng mẹo há ra. Hai gian bên kê giường tre, nơi nghỉ ngơi của vợ chồng con cái. Chái bên vừa bếp vừa  trữ lương thực. Bồ thóc rỗng không chẳng có hạt nào, dưới nền bếp chỏng chơ vài củ sắn bám đầy đất.

Gió lạnh lùa từ đầu hiên làm căn nhà trống trải lạnh nao lòng. Cả nhà không có cánh cửa. Phóng viên hỏi, nhỡ trộm vào thì sao, Mỳ chỉ ra sân, chiếc xe bò với chiếc xe đạp rách kia chẳng ai thèm lấy, trong nhà trống không.

Lục lọi đống giấy cũ anh đưa phóng viên xem bộ hồ sơ quân nhân bị thương đã chuyển ra ngoài quân đội suốt 6 năm chạy ngược xuôi, xin chế độ thương binh nhưng chưa được. Theo hồ sơ anh nhập ngũ ngày  20/5/1972 đơn vị C3 D25 QK4 ngày 9/10/ 1972 binh Nhất Cao Tiến Mỳ đang hướng đẫn cho xe ra vào tại phà Bến Thủy bị bom tọa độ. Bị thương ở ngực bên phải mảnh bom găm vào hai chân và  sức ép nặng. Đồng đội đưa đi điều trị tại trạm phẫu thuật chi nhánh 42 đóng ở Nam Đàn kèm theo quyết định xuất ngũ của thủ trưởng bộ tham mưu QK4. Giấy chứng nhận của Lữ đoàn 414 ngày 11/4/1996 do thượng tá Trịnh Huy Thực ký. Chứng nhận để các cơ quan đơn vị giải quyết chế độ cho đồng chí Cao Tiến Mỳ theo chính sách của nhà nước.

Biên bản hội nghị liên tịch đề nghị giải quyết thương binh ngày 19/12/2000 với 8 chữ ký 5 con dấu do Đảng ủy ,UBND xã Nghĩa Dũng, cùng hội cựu chiến binh. Mặt trận tổ quốc công an xã thống nhất xác nhận:

-Ông Cao Tiến Mỳ đi bộ đội tháng 5/1972. Xuất ngũ tháng 8/1975  bị thương ngày 9/10/1972 tại bến Thủy, thành phố Vinh.

Chúng tôi đề nghị ngành chính sách quân đội bổ sung hồ sơ và giải quyết chế độ thương binh cho ông Cao Tiến Mỳ.

Mặt trái của cặp hồ sơ, bút tích của cán bộ chính sách ghi:

- Hồ sơ người làm chứng không có chứng cứ cùng đơn vị khi bị thương? Bị thương ở chiến trường A Miền Bắc  khóa sổ nay không giải quyết, Ngày 28/2/2001.

Theo trả lời của phòng chính trị - Ban chỉ huy quân sự tỉnh vào ngày 20/9/2000 thì hồ sơ chưa đủ điều kiện để giải quyết chế độ theo quy định hiện hành.

Cao Tiến Mỳ được yêu cầu đi làm bộ hồ sơ vài lần, bổ sung hết giấy này đến giấy khác, đi lại nhiều vẫn không xong thủ tục.

Theo lời cán bộ huyện đội, hồ sơ của anh Mỳ còn thiếu giấy chứng thương của đơn vị và bản sơ yếu lý lịch người làm chứng.

Anh vơ điếu cày thở dài:

-         Tôi vào nhiều nơi thấy cán bộ hạch sách đủ điều. Trên chỉ xuống dưới, dưới  bảo lên trên. Tôi chán quá không làm nữa. Về đi cày cho khỏe.

Với vụ án “Hai ngàn ngày oan trái”, chuyện của người bạn tù bao khó khăn phức tạp, nguy hiểm tính mạng, nhưng Cao Tiến Mỹ vẫn vượt qua, việc của mình lại khoanh tay?

Anh là thế, lo người khác hơn mình. Tấm lòng nghĩa trượng của người anh hùng hiệp sỹ, cứu người, giúp đời.

Không màng danh lợi, không lo cho mình, “Ăn không cầu no, ở không cầu yên”, là chí người quân tử?

 

3. Cùng với thời gian với biết bao biến cố xảy ra, giờ tìm gặp riêng từng người Lúy, Lưu, Mỳ đã khó, nói chi một cuộc hội ngộ giữa họ.

Những định kiến, mặc cảm ân oán biết đã tan?

Dù khó khăn, báo Tiền phong quyết định vẫn tổ chức được cuộc gặp mặt…

Trời lạnh Nguyễn Sỹ Lúy khoác chiếc áo ấm màu xanh. Trông anh khoan thai hiền từ, gương mặt phảng phất niềm vui. Ngồi cạnh anh là Bùi Văn Lưu – thủ phạm vụ án đêm 28 tết 18 năm trước. Vụ trọng án đẩy Lúy vào tù tội, Lưu rón rén bên Lúy rụt rè như vừa gây tội lỗi. Bên kia là Cao Tiến Mỳ, khắc tinh một thời của Lưu và cứu tinh của Lúy. Anh Mỳ tóc húi cua, lâu lắm mới thấy anh phì phèo điếu thuốc. Nụ cười thường trực trên môi vẻ mãn nguyện.

Chứng kiến cuộc hội ngộ ba người – Đại diện báo Tiền Phong.

Lúy lên tiếng trước:

- Chú Lưu ạ, chuyện cũ qua rồi, tôi không trách móc chú. Giá như hồi đó cơ quan điều tra làm hết trách nhiệm, công tâm, tôi không phải đi tù oan. Lưu nhỉ? Bùi Văn Lưu im lặng, có gì nghèn nghẹn nơi cổ họng, thấy Lưu lúng túng, anh Mỳ đỡ lời:

- Chú Lưu nhận tội là rất đạo đức, có lòng thương người, nếu Lưu từ chối không viết giấy thú tội, không nộp bản khai tang vật, Lúy còn lâu mới được minh oan. Lúy nói thêm:

- Lúc xảy ra sự việc tôi biết chắc thủ phạm chẳng ai xa lạ ngoài anh em chú hoặc mấy gã bán bò. Những lúc lấy cung ông Lịch túm tóc tôi đập đầu tường quát to: “Anh có đủ lương tâm cầm dao đâm chết em ruột của mình không mà đổ vào người ta hử?”. Tôi hận chú tìm cách báo oán, không có ngày nay, tôi rất thông cảm với hoàn cảnh chú, chẳng may rủi ro xảy ra. Xét về tâm lý, hành động của chú  có thể hiểu, Linh là em ruột chú, nếu nhận tội giết em, chú có tội với gia đình họ hàng.

Lưu gật đầu, tại cán bộ làm sai, dẫn tới hậu quả…

Lúy nhìn lưu, tại sao tôi cầm dao chọc tiết lợn, dính máu lợn, xét nghiệm lại ra máu người? Rõ ràng áp đặt buộc sự việc đi theo ý định của họ, máu lợn không thể thành máu người ? vì họ có ý định áp đặt việc giết người cho tôi nên máu lợn  thành máu người. Chắc họ biết điều đó. Cơ quan xét nghiệm không thể nhầm lẫn, vì chót áp đặt  họ đổi trắng thay đen trắng trợn quá. Anh Mỳ xen vào:

- Thực ra Lưu không chủ đích đâm người, cũng không có ý đổ tội cho Lúy mà  nhiều yếu tố khách quan đưa lại. Cảm ơn chú Lưu dũng cảm nhận tội, đó là việc lam cao thượng giúp Lúy thoát khỏi tù tội và mang tiếng giết người suốt cả cuộc đời còn di hại con cháu. Lưu giúp Lúy rửa sạch nỗi oan  cứu gia đình chú Hoành khỏi cơn bĩ cực, nếu không hậu quả đau đớn vô cùng, không sao lường hết. Các nhà chức trách yên trí không làm oan sai người dân. Họ vẫn kề gối cao đầu ngủ yên trên sự đau khổ của nhân dân, mắt Lưu ngấn ngấn nước.

  Lúy hỏi:

- Chú Lưu về nhà có hay uống rượu?

- Em lúc nào vui bạn bè mới uống, không nhiều đâu.

- Chú bỏ rượu đi -Lúy khuyên, uống càng ít càng tốt. Có người uống rồi chửi vợ, chửi con, chửi cả hàng xóm, khổ lắm.

- Mấy năm nay em đau ốm liên miên, Lưu nói, từ khi dính vụ án chẳng làm ăn được gì.

Lúy sửa lại cặp kính.

-Ngày đứng trước tòa, tôi thấy mình thanh thản, tôi không nhận tội cha tôi  chết trong trại giam, sức ông yếu lắm. Tôi nghĩ làm thế  cứu được cha, hạnh phúc lắm.

 Bùi Văn Lưu sụt sùi, đứng hẳn dậy tay chắp trước ngực cung kính nhìn Lúy như tạ lỗi:

- Anh Lúy ơi, em rất ân hận, vì em mà anh bị oan ức, tội em thật đáng chết. Nhưng do hoàn cảnh đưa đẩy, nhiều lần em tìm địa chỉ nhà anh, nhưng không được, em không biết anh ở đâu. Mong anh độ lượng bỏ qua, tha thứ cho em.

Không khí chợt lắng, ngưng đọng, cả ba người Lúy, Lưu, Mỳ đều xúc động. Một cử chỉ hay hơn cả tiểu thuyết, phim ảnh. Khoảnh khắc huyền diệu như một mốc son, chuyển tiếp thời gian. Kẻ có tội đã nhận.

Người chịu oan trải rộng lòng tha thứ. Giờ họ láng riềng, hàng xóm, anh em thân thiết.

Ai cũng mong giây phút xúc động kéo dài mãi.

Lúy nhìn Lưu thân ái:

- Thôi chú Lưu ạ, tôi không oán hận chú, từ nay ta là anh em của nhau. Thỉnh thoảng mời chú ghé nhà tôi chơi, chú xây nhà mới chưa?

Lưu khép nép ngồi xuống thưa gửi:

- Em định sang năm động thổ. Vợ chồng em định làm từ năm 1990, lần lữa mãi.

Lúy dặn dò ân cần:

- Chú nhớ xem ngày tháng, việc xây nhà là hệ trọng lắm .

Lưu đi bộ đội năm 1978 ở Cămpuchia 3 năm bảy tháng. Năm 1982 xuất ngũ về quê cưới vợ, năm 1983 ra ở riêng; Được thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang.

Khi xảy ra vụ án “Hai ngàn ngày…”, có lúc chán nản, bi quan định tự sát, nhưng thương vợ con, chịu đựng vượt qua những năm tháng khó khăn nhất trong đời người để có ngày nay .

Gia đình còn khó khăn nhưng cuộc sống đầm ấm thuận hòa. Thấy Lưu cứ chăm chú nhìn bó hoa tươi trên bàn. Lúy mỉm cười:

- Hôm 20/11 con gái tặng mình, nó nói mẹ cho con tiền ăn sáng, con nhịn để mua hoa tặng bố, con thương bố, thầy giáo mà chẳng ai tặng hoa. Mới hơn chục tuổi khôn ngoan thế. Mẹ tôi cứ đến ngày nhà giáo Việt Nam lại khóc, bà thương con. Thà rằng không được ăn học, đằng này học hành đến nơi đến chốn có nghề nghiệp, chân tay lại liệt thế  tội lắm.

Hôm phóng viên vào nhà ông Tụ Chánh án TAND tỉnh, nguyên Thẩm phán tòa án tỉnh, chủ tọa phiên tòa sơ thẩm xét xử Lúy 1984, ông Tụ bảo anh không hề kêu oan. Cứ nhận tội răm rắp. Bởi thế tòa mới xử anh 17 năm tù giam.

Anh Lúy trầm tư.

-Tôi không hề chối, nếu chối họ lại bắt hết gia đình nhốt vào trại, cha tôi làm sao thoát. Hội đồng xét xử không phát hiện được, bởi hồ sơ khép kín.

Nghe nói ông Tụ có ghi vào biên bản xét xử , “Có thể xẩy ra chuyện anh giết nhầm em?...”.

-Tôi không biết việc này, Lúy đáp.

Ngoài hiên nắng chiều đã nhạt, nhóm phóng viên cùng Mỳ ra ngoài để Lúy và Lưu tâm sự.

18 năm có bao biến cố đổi thay của kiếp người trong cõi nhân gian, năm tháng trôi vùn vụt, bao nhiêu đắng cay nhọc nhằn thù hận ân oán, cũng trôi theo dòng đời, con người xích lại gần nhau.

Tiếng xe đạp leng keng chị Liên vợ anh Túy đi chợ về.

 

4. Thời gian trôi, gần vài chục năm, biết bao sự đổi thay thời cuộc, xã hội và con người.

Những người tham gia điều tra xét xử trong vụ án oan Nguyễn Sĩ Lúy năm xưa, người về hưu sống yên lành  giữa phố thị, người đương chức cán bộ nhà nước, sau đó họ sống ra sao, suy nghĩ thế nào, lương tâm có cắn rứt trước số phận cay đắng trầm luân, nhiều bi kịch của Nguyễn Sỹ Lúy mà họ đẩy vào? Lúy  là nạn nhân của thói quan liêu cửa quyền vô trách nhiệm, ngu dốt của những ai đó.

Nhóm phóng viên phóng xe đi tìm với một địa chỉ mơ hồ, tìm gặp ông Nguyễn Tụ - Nguyên Thẩm phán TAND tỉnh, người ngồi ghế chủ tọa xét xử Lúy17 năm tù giam trong phiên tòa sơ thẩm năm xưa. Ông Tụ giờ là Chánh án TAND tỉnh. Ông Giám đốc Sở Tư pháp cho biết ông Tụ ở số 6 Nguyễn Du. Ông Tụ dáng người tầm thước, chắc đậm, khuôn mặt chữ điền. Sợ ông ngại ngần chuyện này chuyện khác, thoái thác nên vừa gặp sau vài câu thăm hỏi xã giao, phóng viên đi thẳng vào câu hỏi:

- Chúng tôi được biết tại phiên tòa sơ thẩm xét xử Nguyễn Sỹ Lúy, ông ngồi ghế chủ tọa, thưa ông, Lúy có kêu oan ?

Ông Chánh án điềm đạm:

- Năm đó tôi là Thẩm phán trẻ, mới 32 tuổi, chủ tọa phiên sơ thẩm. Vụ án lạ lùng, tưởng đơn giản. Một bên là hai anh em Lưu – Linh, một bên bốn bố con ông Hoành. Thủ phạm phải một trong số họ. Nhưng sai lầm cũng chính từ lý do đơn giản.

Điều phải xem xét nhất, nghiêm trọng nhất là từ khâu thụ lý điều tra xét hỏi.

Các vị chủ quan không xem xét mọi khả năng xảy ra, chỉ đi theo một hướng chủ định dẫn đến sai lầm. Khi điều tra phải đặt ra nhiều khả năng, nhiều hướng  xem xét, loại trừ dần mới tránh sai sót. Đằng này, họ định sẵn tội phạm, gò ép người ta nhận, bằng mọi cách ép cung, mớm cung, dùng nhục hình buộc phải nhận tội. Kiểu “Đẽo chân cho vừa giày”, làm án kiểu đó rất nguy hiểm, làm oan sai người vô tội, lương thiện, bỏ lọt kẻ tội phạm như chơi, kẻ phạm tội nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, người thật thà ngay thẳng ngồi tù thay. Đó là bài học đau xót cho cơ quan điều tra xét hỏi.

Nhưng lạ ở chỗ, vết dao đâm Bùi Văn Linh rộng 2,5 cm trùng với kích thước dao Nguyễn Sỹ Lúy khai. Lúy còn khai đâm xong, Lúy chạy tắt qua vườn lạc, sọc dao xuống đất cho mất vết máu. Nguyễn Sỹ Lúy bịa ra, rồi nhận tội răm rắp, không kêu oan.

- Theo ông, tại sao Lúy nhận tội, vơ vào  án tù oan?

- Lúc đầu, Lúy nghĩ cha gây sự đâm chết người. Lúy nhận tội để cứu cha không bị bắt, không bị giam giữ. Lúy cho thế là báo hiếu.

- Bùi Văn Lưu sau khi gây án còn ném lựu đạn vào nhà ông Hoành. Sao hồi đó Lưu không bị truy tố vì tội tàng trữ và sử dụng vũ khí trái phép?

- Lưu đi bộ đội về, quả lựu đạn anh ta mang từ Campuchia, tôi không hiểu sao hồi đó người ta bỏ qua tội Bùi Văn Lưu, nhưng thôi, chuyện đã qua.

Ông Tụ cười, đẩy bát nước chè xanh về khách, ông Chánh án kể rằng, trong phiên tòa sơ thẩm, ông ghi vào biên bản xét xử, cần lưu ý trường hợp có thể anh giết nhầm em. Ông Tụ nói:

- Tôi đọc to điều này cho bị cáo Nguyễn Sỹ Lúy nghe nhưng không thấy Lúy kêu oan, cứ một mức nhận tội. Dù ghi như vậy, nhưng tôi nghĩ chắc không có chuyện oan trái, bởi vụ án khép kín, bị cáo nhận tội.

Nhưng khi  vụ án “Hai ngàn ngày oan trái” lật ngược 180o, ông mới thấy sai lầm. Ông quá tin vào “Án tại hồ sơ…” – ông Tụ thừa nhận.

 Điều giúp Nguyễn Sỹ Lúy trút bỏ án oan không đến từ cơ quan pháp luật mà nhờ người bạn tù Cao Tiến Mỳ giải thoát. Đây là điều chúng ta suy ngẫm, cả một bộ máy công quyền, bao con người có quyền lực, phương tiện vật chất trong tay?

Gia đình ông Hoành kêu oan mấy năm trời, oan trái người dân không được xem xét, lại để một người nông dân từng đi tù, trong tay không có phương tiện, không chút quyền hạn, một mình ăn cơm nhà đi điều tra phá án, quả là một việc phi thường, ngoài sức tưởng tượng của con người. Người dân nghĩ thế nào về những người nắm trong tay quyền lực, những “công bộc” của dân, ăn cơm của dân?… Hay là những quan tham thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ đè đầu cưỡi cổ nhân dân để vinh thân phì gia?… Ông Tụ nói thêm:

- Hồi đó, nếu Nguyễn Sỹ Lúy không gặp Cao Tiến Mỳ, không ai minh oan cho Lúy. Nếu Bùi Văn Lưu chối bỏ sự thật, cho rằng Lưu không phạm tội, vụ án càng phức tạp. Lần đầu tiên trong nước áp dụng “tái thẩm” với những tình tiết mới, “hồ sơ” mới hoàn toàn.

Ông Tụ cười nói:

- Nghề thẩm phán là một nghề khó, đụng chạm số phận con người. Khi xét xử không nên quá tin vào hồ sơ, phải soi xét từ nhiều phía, phải để cho bị cáo nói hết, không hạn chế, phải thật sự tranh luận công khai, dân chủ, không nên chủ quan phiến diện, phải có cái nhìn sâu sắc toàn diện trước vấn đề đưa ra xét xử, phải có thái độ trung thực, công bằng, công tâm, đạo đức trong sáng, không thiên vị vì bất cứ lý do nào, giảm được oan sai.

Có nhiều yếu tố dẫn đến  oan sai của Nguyễn Sỹ Lúy, nhưng nguyên nhân căn bản nhất là do thái độ chủ quan kém cỏi, ngu dốt, quan liêu, cửa quyền, hống hách, thiển cận, của quá trình thụ lý, điều tra vụ án ban đầu dẫn tới hàng loạt sai phạm sau này. Đây là bài học lớn nhất, sâu sắc nhất của các cơ quan có thẩm quyền. Hôm gặp anh Lúy ở Nghĩa Bình, anh cho biết vị cán bộ công an huyện trực tiếp hỏi anh đầu tiên, ông Nguyễn Tất Lễ, phóng viên gặp ông Lễ tại nhà ông ở đội 3 Chí Tân, huyện Khuyến châu, cặp mắt ti hí vẻ hiểm độc, ông Lễ khoe:

- Tôi là Đội trưởng Đội cảnh sát hình sự. Tôi cũng khét tiếng lắm đấy. Hôm ấy, 28 âm lịch, tôi về nhà nghỉ Tết. Mồng 4 lên  nghe xảy ra vụ án ở Tam Hiệp. Lúc này, ông Lâm – Phó phòng Kỹ thuật công an tỉnh, ông Bá – Trinh sát phòng CSHS và ông Lịch – điều tra viên phòng PC 16 trực tiếp khám hiện trường. Tôi hỏi cung Lúy ba ngày, Lúy không nhận tội, tôi bàn giao cho ông Xá – Phó công an huyện, diễn biến sau đó như thế nào, tôi không rõ.

Ông Lễ thanh minh:

- Tôi không hề đánh đập Nguyễn Sỹ Lúy. Lúy trình độ Đại học, tôi trình độ Trung cấp, tôi đánh Lúy làm gì hả anh? Lúc này, chủ yếu tôi dùng lý lẽ, lý luận để đấu tranh ???!!!

Ông Lễ rít thuốc lào liên tục, cặp mắt sâu hoắm của ông càng sâu thêm trên khuôn mặt lưỡi cày gian giảo, ông đẩy câu chuyện lên phía trên: “Tôi không biết”, “Tôi không rõ”, “Cái này thuộc tỉnh làm”. Nghe ông nói có điều “Tiền hậu bất nhất”. Ở trên ông chả khoe ông “khét tiếng lắm đấy”. Ông “khét tiếng” nghĩa là ông dọa nạt người dân, thế mà ông chối không đánh đập Nguyễn Sỹ Lúy. Lúy nói ông nắm tóc anh, dập đầu vào tường đe dọa.

Bây giờ không phải lúc xem xét lại trách nhiệm từng người tham gia vụ án “Hai ngàn ngày oan trái”. Bởi 18 năm trôi qua, tất cả khép chặt vào dĩ vãng, hết hiệu lực truy cứu, vấn đề ở phía sau vụ án oan sai nghiêm trọng này, những người làm sai rút ra bài học kinh nghiệm gì để đời cho lớp kế tục mà thôi, ở đời việc tranh công đổ lỗi vẫn thường xảy ra, không ai chịu nhận mình làm oan sai người dân. Vì sao nhỉ? Có ai bắt tội họ nữa đâu. Có lẽ lương tâm họ cắn rứt, họ sợ người ta nhìn vào góc khuất trong tâm hồn, nhìn thấy sự xấu xa đê tiện trong tâm hồn.

Phóng viên đang ở huyện thì nhận được tin nhắn của anh Cao Tiến Mỳ: “Ông Lịch hiện nay đang sống ở Đông Kết. ông Đỗ Quang Lịch nguyên điều tra viên phòng PC 16, Công an tỉnh. Người trực tiếp điều tra, lập hồ sơ vụ án Nguyễn Sỹ Lúy năm 1983 để  sau này, chuyển qua Viện Kiểm sát, Tòa án cho ra đời bản án 17 năm tù oan trái. Ông Lịch ở Đông Kết còn xóm nào anh Mỳ không biết.

Vất vả lắm phóng viên mới tìm được nhà ông Lịch, dáng người mảnh khảnh, dỏng cao, mặt rỗ, lưỡi cày, mái tóc lốm đốm bạc, rung chuyển sau những bước chân vồi vội.

- Chào anh – Ông chìa tay ra bắt, bàn tay dè dặt trong cái nắm tay lơi lơi của vị chủ nhà.

Phóng viên tự giới thiệu, rồi đi thẳng vào vấn đề:

- Chuyện anh Nguyễn Sỹ Lúy  tù oan, 18 năm về trước, chắc ông rõ. Chuyện cũ, chúng tôi không nhắc lại. Điều mà bạn đọc muốn biết là những người hoạt động trong các cơ quan công quyền có liên quan trực tiếp  vụ án Nguyễn Sỹ Lúy, sau khi án kết thúc  sống những năm tháng thế nào, rút ra được những gì?

Phóng viên ngắm kỹ dung nhan người chủ. Ông không còn trẻ có thể gọi bằng “anh”, cũng chưa già để gọi bằng “ông”. Tóm lại rất khó đoán tuổi. Kiểu dở ông dở thằng.

Mặc dù trên gương mặt lốm đốm tàn nhang, thêm những nốt rỗ chằng chịt, chốc chốc nhíu lại khi có điều suy nghĩ đăm chiêu. Ông mở đầu câu chuyện, nghe không cảm thấy hài lòng, ông nói:

- Vụ án xảy ra như thế nào, thời gian quá lâu, tôi không nhớ hết. Nhưng tôi xin nói là hồi đó, báo chí viết như vậy là không đúng.

Sau đó đoàn kịch về diễn vở “Hai ngàn ngày oan trái…” cũng không đúng với vụ án xảy ra. (Ông không hiểu gì về nghệ thuật. Nghệ thuật không nhất thiết phải đúng sự thật&hellipWink. Tôi là tôi rất bực, hễ cứ nhắc lại vụ án này là tôi rất bực. (Không hiểu ông bực cái gì, bực với ai?).

Sắc mặt ông chuyển dần từ đỏ sang tái. Thái dương giật giật, hình như câu chuyện vừa gợi, chạm vào nỗi đau nào đó của ông. Ông dằn từng tiếng:

- Tôi không ngại thừa nhận sai sót về nghiệp vụ, sai là do năng lực trình độ yếu kém. Điều đó chẳng nói làm gì. Nhưng về đạo đức, tôi cho mình chẳng làm gì thất đức. Tôi không ăn tiền, không ăn hối lộ, không làm gì trái lương tâm để làm sai vụ án.

Có thể đúng như ông nói, nhưng việc điều tra xét hỏi làm hồ sơ vụ án rất quan trọng, từ đó Viện kiểm sát ra cáo trạng, Tòa xét xử kẻ phạm tội. Việc làm “sai lệch hồ sơ”, dù không cố ý nhưng là tội quan trọng đẩy người dân vào oan trái. Ông Lịch cố ý trốn tránh tội lỗi của mình sau 18 năm vụ án xảy ra. Bây giờ không ai truy cứu trách nhiệm hình sự của ông. Nhưng ông phải hiểu rằng, việc làm của ông đẩy một công dân lương thiện  tù oan hai ngàn ngày, đẩy một gia đình tan nát, ảnh hưởng tất cả thành viên gia đình họ, dẫn tới nhiều bi kịch, làm hỏng mấy cuộc đời con người, đưa họ thành những số phận bi đát, tội của ông không nhỏ nếu xét mức độ thiệt hại của gia đình ông Hoành.

Ông Lịch có thể thoát khỏi búa rìu luật pháp, nhưng không thoát khỏi búa rìu dư luận trong nhân dân. Tòa án nhà nước không luận tội ông nhưng tòa án lương tâm theo đuổi ông bao năm qua, ông vẫn hậm hực khi ai nhắc vụ án, chứng tỏ ông chưa thoát được sự ám ảnh tội lỗi ông gây ra cho người lương thiện  tù oan.

Nếu như lúc đó có luật bồi thường oan sai như sau này, rõ ràng ông là người chịu trách nhiệm đầu tiên về vụ án, phải bồi thường cho Nguyễn Sỹ Lúy và gia đình ông Hoành.

Rõ ràng hễ nói vụ án là ông bực. Ông bực bội gì? Ông chẳng nói: Ông bảo ông rất tức, nhưng tức cái gì, ông không hay. Rõ ràng lương tâm ông không được yên tĩnh, thoải mái, khi ai đó nhắc đến vụ án.

Phóng viên biết ông không mặn mà với câu chuyện, ông muốn kết thúc câu chuyện, không muốn nhắc lại thêm điều gì nữa. Muốn tống khứ vị khách không mời mà đến quấy rầy, khơi lại trong ông sự bực bội trong lòng bao năm qua, muốn vứt bỏ không được.

Phóng viên biết thế, nhưng cứ hỏi ông câu cuối cùng:

- Thực ra, điều gì làm ông cảm thấy bất an nhất sau khi xảy ra vụ án Nguyễn Sỹ Lúy?

- Tôi tức với lãnh đạo – ông Lịch tâm sự - xử lý không đúng người, có lần tôi viết báo cáo gửi cấp trên nói rõ đúng sai nhưng chờ mãi không thấy hồi âm.

Thì ra lúc này ông vẫn chưa nhận ra việc làm dẫn tới hậu quả  thế nào?

Ông Lịch nói:

- Nếu các anh muốn tìm hiểu vụ án, tốt nhất hỏi tỉnh, “Án tại hồ sơ…”, tất cả  khép lại rồi.

Ông đổ “Án tại hồ sơ…”, nhưng ai lập? Ông bắt Lúy nhận tội, chính ông là người lập, làm sai lệch hồ sơ, lại đổ án tại hồ sơ. Đúng là vòng luẩn quẩn. Nhiều người không biết ông lập hồ sơ nên không biết ông có tội. Lúc này không ai buộc tội ông, nhưng trong thâm tâm ông vẫn sợ nên đổ cho người khác. Ông là người điều tra xét hỏi chính của vụ án, của cơ quan điều tra công an tỉnh. Lập hồ sơ vụ án  chuyển cho Viện kiểm sát làm cáo trạng, luận tội bị cáo.

Ông không điều tra xem xét mọi khả năng có thể xảy ra, tìm thủ phạm. Ông đổ riệt bố con ông Hoành, buộc Lúy nhận tội. Ông ép cung, mớm cung, dùng nhục hình với bị cáo, tội làm oan sai người dân dẫn tới hậu quả nghiêm trọng, ông phải ngồi tù, và phải bồi thường cho người bị hại như nghị quyết của Quốc Hội sau này, chứ không chỉ bị nghỉ hưu sớm khi  40 tuổi.

 



 



 

(HÌNH CHỈ CÓ TÍNH MINH HỌA)

 

 


Đoạn kết


Mọi hận thù đều có thể hóa giải được


nhờ thiện chí và lòng nhân ái, bao dung.


Những lá thư cảm động của Nguyễn Sỹ Lúy và Cao Tiến Mỳ.

 

 

Nguyễn Sỹ Lúy: Chúng tôi còn phấn đấu trở thành bạn tốt của nhau.

“Kính gửi: Ban Biên tập báo Tiền Phong.

Trước hết, cho phép chúng tôi gửi lời kính chúc sức khỏe và thành công đến Ban biên tập, phóng viên và những người làm việc trong tòa soạn.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc trước sự quan tâm  động viên của Ban biên tập, tôi đã nhận được quà của báo gửi tặng.

Tôi còn nhận được từ Tiền Phong những tấm lòng nhân hậu. Rất cảm động khi Tiền Phong gửi  cho tôi lời chúc tốt đẹp nhân ngày 20/11 của một độc giả. Xin cảm ơn!... Là một giáo viên, nhưng đã 18 năm. Đây là lần đầu tiên tôi có vinh dự này. Hàng năm, ngày 20/11 tôi chỉ biết ngậm ngùi chịu đựng.

Biết tâm trạng tôi, năm nay con gái nhỏ mua tặng bó hoa rất đẹp từ khoản tiền tiết kiệm.

Tiền Phong thân mến!

Điều tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn, việc báo giúp làm một điều tôi cảm thấy quá sức. Đến nay, tôi vẫn cảm thấy ngỡ ngàng và khó tin, dù việc đó xảy ra tốt đẹp. Kể cả Lưu cũng cảm thấy quá sức mình dù Lưu rất muốn xin lỗi và bày tỏ sự sám hối muộn mằn.

Suốt 18 năm qua, thú thực tôi nuôi trong lòng ý chí trả thù. Danh sách  trả thù 4 người, kế hoạch hành động  vạch ra và hoàn thiện qua nhiều năm tháng.

Danh sách 4 người vu khống, trút tai họa xuống đầu tôi và gia đình. Các điều tra viên nhiều thủ đoạn ép cung và làm nhục tôi quá nhiều. Một cán bộ quản giáo nhà giam A – kẻ  đánh đập tôi khá tàn tệ. Riêng kế hoạch trả thù không dám nói, nói ra tôi lại độc ác hơn 4 vị trên. Sở dĩ, tôi chưa thực hiện kế hoạch vì gánh nặng gia đình và sự giằng kéo của chữ Tâm. Tôi hiểu, lấy oán trả oán, oán càng sâu, hận trả hận, hận càng nặng, cứ tiếp tục đời con cháu chưa hết thù oán. Đấu tranh giằng co mãi lòng nhân ái trong tôi thắng hận thù. Nhân nghĩa thắng bạo tàn. Chính nghĩa thắng gian tà. Gia đình tôi, một gia đình gia giáo đang ấm êm thịnh vượng. Bỗng nhiên những kẻ trên gây tai họa, 4 cha con tôi phải vào tù. Sau đó suốt 5 năm, cha tôi phải  ăn xin để khiếu kiện. Mẹ tôi phải bòn rút, nhặt nhạnh nuôi con trong tù. Em trai tôi, một Đảng viên, quân nhân xuất ngũ bị khai trừ Đảng tịch, không đựơc duyệt lý lịch đi đại học. Hai em gái bỏ dở sự nghiệp học hành vì hồ sơ có vết đen trong lý lịch gia đình. Vợ tôi một đối tượng Đảng xuất sắc, Chiến sĩ thi đua nhiều năm vẫn không được kết nạp.

Còn tôi, nguyên giảng viên đại học, nay tàn phế kiếm ăn lần hồi. Tất cả vì bản án giết người oan nghiệt, lý do để tôi nung nấu báo thù.

Thế mà hôm nay tôi hoàn toàn khác, sau buổi gặp gỡ do báo Tiền phong tổ chức. Buổi gặp diễn ra tốt đẹp ngoài mong đợi. Ngoài sự thông cảm tha thứ, chúng tôi còn phấn đấu trở thành bạn bè tốt của nhau.

Thế mới biết mọi hận thù có thể hóa giải nhờ thiện chí và lòng nhân ái của con người. Lòng nhân ái độ lượng bao dung giúp con người trưởng thành và tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn thù hận rất nhiều.

 

Cao Tiến Mỳ: Báo Tiền Phong cho chúng tôi cơ hội nói hết sự thật bao năm.

 

“Kính gửi các anh chị ở báo Tiền Phong.

Với sự quan tâm của báo Tiền Phong, gia đình tôi nhận được sự quan tâm của nhiều bạn đọc, báo Tiền Phong giúp 1 triệu đồng và một tivi màu. Chẳng gì cao quý hơn tấm tình sâu nặng đó. Gia đình tôi xin chân thành cảm ơn tất cả. Phóng viên báo làm một việc, tôi và Lúy rất thỏa mãn, cũng như bạn đọc cả nước.

Công việc rất vất vả của phóng viên  đi gom từng người trong vụ án gặp mặt tại gia đình Lúy. Cuộc trò chuyện cởi mở giữa tôi và Lưu thật tuyệt vời.

Tôi nói với Lưu, không làm thế, Lưu không có cơ hội để đức cho con cháu.

Chúng tôi bắt tay nhau trìu mến và hòa thuận. Khi tiễn Lưu, tôi gửi cháu gói kẹo và nói:

-         Có gì cũng đừng nghĩ nữa nhé!

Lưu mời tôi:

  -  Có thời gian lên nhà, nhà em vẫn ở đó, có câu chuyện vui với anh Mỳ.

Hoàn cảnh Lưu  khó khăn như tôi, chúng tôi bắt tay tạm biệt.

Không có gì ngoài nhìn nhau, chào nhau, bằng một tấm lòng đoàn kết. Cảm ơn báo Tiền Phong, các phóng viên làm một việc tôi hằng mơ ước trong 18 năm qua với một khát vọng hòa bình trong chúng tôi.

Một lần nữa, gia đình chúng tôi chân thành cảm ơn báo Tiền phong, cảm ơn tất cả mọi người.

 

 

                                                  LÊ VĂN THỌ

( HẾT)

 

 

 

 

 

 

 

Người đăng tin: Lê Văn Thọ

Tác giả bài viết: LÊ VĂN THỌ - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước