TIỂU THUYẾT : CHA VÀ CON-11 [Tiểu thuyết]

Thứ sáu - 28/08/2015 14:45

                                                                                            (Đất nước Trung Hoa thời cải cách)   Sau khi đọc lá thư của cô gái làm thuê, Nghĩa suy  nghĩ rất nhiều về c...

 

 

 

 

 

 

 

                                                                           

 

(Đất nước Trung Hoa thời cải cách)

 

Sau khi đọc lá thư của cô gái làm thuê, Nghĩa suy nghĩ rất nhiều về cô và lời khuyên của cô. Nghĩa muốn tìm vợ về giải hòa, cùng nhau nuôi dạy con cái. Đứa con gái còn bé, cần có sự chăm sóc dạy dỗ của người mẹ, vì lòng tự ái, sĩ diện nên chưa quyết, để cô tự về, có lẽ hay hơn. Chờ mãi không thấy, Nghĩa hơi lo, không biết vợ đi đâu. Một tuần, hai tuần…một tháng, hai tháng… vẫn không thấy tăm hơi. Bố mẹ cô cũng cuống lên, không biết con gái đi đâu? Tưởng cô đi chơi đâu đó rồi về. Vài tháng không về. Cả nhà hoảng quá. Gia đình ông Phú lo lắng, không hiểu có chuyện gì xảy ra. Nghĩa ngoài mặt tỉnh bơ, nhưng trong lòng rối loạn. Nhỡ xảy ra việc gì, anh ta có phần trách nhiệm. Không hiểu cô ta đi đâu nhỉ? Nghĩa muốn vào nhà bố mẹ vợ hỏi nhưng ngại. Sau thấy họ cũng không biết cả hai nhà lo loạn cả lên. Cho người tìm khắp nơi, tất cả họ hàng, bè bạn, người quen đều không biết. Con người có phải cái kim, mà không ai nhìn thấy. Lạ thật! Ông Phú định đăng báo, nhờ truyền hình đưa tin, sau lại thôi. Cố chờ một thời gian nữa xem sao. Trong làng có lời đồn đại, bàn ra tán vào về sự mất tích của cô. Người trách cô, kẻ trách gia đình ông Phú bất nhân, bỏ mặc con dâu, sống chết ra sao không biết. Tại cô ta bỏ đi, có ai đuổi, chửi mắng hay đánh đập. Có thể cô xấu hổ, tự bỏ đi.

Nghĩa hối hận vì đã đối xử thô bạo với vợ. Việc đưa cô gái trẻ về ở có thể làm vợ tức giận, không chịu nổi sự xúc phạm đã quyết chí ra đi…

    Ở nhà một mình, Nghĩa có thời gian suy nghĩ về cuộc đời, Nghĩa làm nhiều điều trái lương tâm, đạo đức, bị trời phạt,từ nhỏ được ông cha dạy dỗ tư tưởng nhân, trí, lễ, nghĩa của Nho giáo. Lớn lên ra ngoài xã hội tiếp thu nhiều cái xấu. Không giữ được truyền thống gia giáo của gia đình bao đời cha ông gây dựng. Trở thành đứa con bất hiếu, bất nghĩa, Nghĩa hối hận. Khi tan đàn xẻ nghé, mới thấm thía vì không nghe lời ông bà, cha mẹ. Bản chất tốt đẹp trong con người Nghĩa được thức tỉnh. Nghĩa tỉnh ngộ, muốn đi theo con đường chân chính, tu thân, tề gia,muốn trở thành con người lương thiện, sống hòa đồng cùng mọi người, vui vẻ với những gì mình có. Không bon chen với người đời. Nghĩa muốn tìm vợ về, tha thứ cho cô, làm lại cuộc đời, làm lại từ đầu,chưa bao giờ Nghĩa tự ghét mình đến thế. Nghĩa tự sỉ vả vì đã không sống cho ra người, đã bỏ phí tuổi thanh xuân, bỏ phí quãng đời tươi đẹp nhất của con người. Giờ đây Nghĩa quyết tâm đứng dậy, tu thân trở thành một chính nhân quân tử. Đóng góp chút sức tàn còn lại cho gia đình và xã hội. Không biết còn kịp? Mình có làm được? Có thay đổi lối sống, nếp suy nghĩ cũ. Nghĩa đóng cửa hàng tuần, ngồi nhà suy nghĩ, kiểm điểm quãng đời đã qua. Nghĩa đã gần bốn mươi tuổi, chưa già nhưng không còn trẻ. Tuổi bốn mươi, đàn ông nhiều người có sự nghiệp vững vàng, đóng góp nhiều cho xã hội. Còn mình chưa làm được việc nào cho ra hồn. Bạn bè cùng trang lứa nhiều người có địa vị danh vọng rất đáng nể. Còn mình vẫn là anh nông dân chân đất mắt toét, vô nghề nghiệp, không địa vị, không ai coi trọng. Đời người được mấy nỗi, năm tháng trôi đi vùn vụt, như dòng nước chảy, không bao giờ trở lại.

     Nghĩa đang vẩn vơ, suy ngẫm thì nhận được thư của cô gái làm thuê. Tay run run, xúc động mở thư đọc lướt nhanh. Những dòng chữ nhảy nhót trước mắt. Nghĩa phải trấn tĩnh đọc lại vài lần mới hiểu hết nội dung. Cô gái nói có người bạn bị lừa bán sang Trung Quốc mới trốn về. Trong những lần tâm sự cô có nói đến một phụ nữ có chồng con, do chán đời theo bạn bè buôn bán trên biên giới cùng bị lừa bán sang Trung Quốc. Không hiểu sao cô có linh cảm nên dò hỏi kỹ biết người phụ nữ đó chính là vợ Nghĩa. Cô nhanh chóng báo tin để Nghĩa tìm cách cứu vợ. Người bạn có cho biết địa chỉ nơi vợ Nghĩa đang sống.

      Nghĩa mang bức thư cho ông Phú biết và thông báo với bố mẹ vợ. Tin tức lan truyền nhanh như nước. Cả làng biết con dâu ông Phú bị bán sang Trung Quốc. Dư luận xôn xao. Từ xưa chưa có chuyện như vậy. Tuy có nghe đài, ti vi, báo chí nói bọn buôn người thường lừa các cô gái nhẹ dạ, cả tin đưa qua biên giới bán cho nhà chứa hoặc về nông thôn hẻo lánh làm vợ các ông già độc thân, hoặc thanh niên nghèo tàn tật không lấy được vợ. Nhưng là những chuyện tận đâu, không phải làng quê mình.

      Lần này là người làng, ai nấy đều bàng hoàng, ngỡ ngàng như chiến tranh đến gần lũy tre làng. Ngồi đâu người ta cũng bàn tán. Từ ông bà già, trẻ con, họ dự đoán, tò mò đủ thứ. Đặt ra nhiều giả thuyết ngô nghê, tức cười. Có người nói đọc báo thấy có cô gái bị bán vào một gia đình làm đồ chơi cho mấy bố con. Ban ngày làm ô sin hầu hạ cả nhà, đêm làm nô lệ tình dục cho đám đàn ông như hổ đói, lâu không bắt được mồi. Hoặc làm vợ ông già vừa mù, vừa thọt, răng rụng hết. Đám thanh niên nói chuyện cười hô hố…

     Gia đình ông Phú như ngồi trên chảo lửa. Lo lắng, rồi danh dự, uy tín,làm trò cười thiên hạ. Nghĩa ân hận do lỗi lầm gây ra nghiệp chướng, hậu quả tai hại. Giờ biết làm sao đây? Biển người mênh mông tìm sao thấy. Đất nước Trung Hoa bao la rộng lớn hàng tỉ người. Đáy bể mò kim, chim trời cá nước, biết đâu mà tìm.

      Gia đình ông Phú bàn bạc mấy ngày, quyết định đi tìm bằng được cô con dâu về. Dù tốn kém bao nhiêu cũng chịu. Không người ta cười, chửi nhà mình thất đức, bỏ mặc con dâu. Mạng người không phải cỏ rác. Lúc đầu định cử Nhân cùng ông Phú đi tìm. Sau do Nghĩa đòi đi, mọi người thấy hợp lý. Ông Phú già rồi sợ không kham nổi quãng đường gian khổ. Để Nghĩa và Nhân đi. Nhân là công an, có nghiệp vụ, tự bảo vệ được trên đường đi. Nhân phải xin cơ quan nghỉ không lương một thời gian. Nghĩa đi để thuyết phục vợ. Sợ cô chán đời không muốn về.

        Sau khi bàn bạc thống nhất ông Phú nhờ mối quan hệ trên trung ương, liên hệ với sứ quán Trung Quốc, chính quyền hai tỉnh liền kề biên giới, nhờ giúp đỡ. Mọi việc chuẩn bị xong xuôi, chờ ngày anh em Nghĩa lên đường.

 

                                                                                                              *   * *

Khi biết ông Phú và toàn thể gia đình cử chồng đi tìm em dâu cô Ái giãy đành đạch, lồng lộn xỉa xói:
- Việc gì phải thế, cho con đĩ chết mẹ nó đi. việc gì phải tìm cái quân trốn chúa lộn chồng.

Nhân an ủi vợ:

- Thôi! Dù sao cũng ruột thịt nhà mình, cả nhà đã quyết, phải nghe!

- Mặc mẹ nó, nhà mình bao nhiêu việc phải lo, hơi đâu lo việc người khác.

- Sao em lại nói thế, việc nào mà việc người khác. Chú Nghĩa là em ruột, mình phải có trách nhiệm.

- Trách nhiệm gì? Anh em kiến giả nhất phận, ai có thân người ấy lo. Mình có việc chú ấy có lo?

- Anh em còn lúc này lúc khác, ai nắm tay từ sáng đến tối.

- Mặc kệ, em không cho anh đi, nhà anh hay vẽ chuyện, rách việc, hơi đâu, cho nó chết hết giống làm đĩ, báu gì mà phải tìm, con gái đầy ra đấy, nếu muốn chú Nghĩa lấy vợ khác, thiếu gì?

- Mình nói thế không được, chú thím ấy nghe, trách cho.

- Em đếch cần!

- Nhưng anh cần. Còn cụ, ông bà, các anh chị em, máu chảy ruột mềm, thấy chết không cứu sao được…

- Rõ vẽ chuyện, lúc chú ấy làm ăn được, có hỏi đến ai, có cho nhà mình cái gì? Vợ chồng hú hí với nhau có biết đến ai?

- Nhà mình thiếu gì mà phải cho, mà có thiếu còn ông bà, đâu cần chú ấy?

- Toàn chuyện ôm rơm rặm bụng. Ốc chẳng mang nổi mình ốc…

     Nghe vợ ca cẩm mãi, Nhân ngồi uống nước, hút thuốc, cúi đầu suy nghĩ. Biết vợ là người ghê gớm, đanh đá, lại làm việc ở ngân hàng có tiền của. Xưa nay không nhờ vả nhà chồng. Tuy không nói nhưng trong lòng hậm hực, coi thường mọi người. Cô ít chơi bời, thân mật với chị em dâu.          Sợ người ta nhờ vả, vay mượn, Nhân thấy mất mặt với bố mẹ anh em nhưng bản tính hiền lành, ôn hòa, không thích gây sự, đành nhẫn nhục chịu đựng. Mặc vợ muốn làm thế nào cũng được. Gia đình nhỏ của Nhân ở khu tập thể ngân hàng, ít chung đụng với gia đình lớn nhà ông Phú, tránh được nhiều va chạm, xung đột xảy ra hàng ngày. Cô Ái ít về thăm ông bà, bố mẹ, anh chị em nhà chồng. Nhiều lúc Nhân giục mãi, cô mới về. Cô sợ về phải lo quà cáp, tốn kém. Sợ ánh mắt ghen tức của các chị em dâu. Cô sợ họ soi mói vì cô giàu có hơn mọi người. Trừ những ngày tết, giỗ chạp, cô ít về, lấy cớ công việc cơ quan bận, phải trực, làm thêm để thoái thác.

     Ngày nghỉ, thường chỉ mấy bố con về. Cô nói phải tranh thủ ngày nghỉ dọn dẹp nhà cửa. Cô viện đủ lý do để không về nhà bố mẹ chồng. Cô biết cụ, vợ chồng ông Phú không ưa cô. Càng tốt! Cô khỏi phải giáp mặt họ. Báu bở gì? Toàn sĩ diện dởm!

    Con người ta khi có tiền thường có thế. Họ giải quyết mọi việc bằng tiền, nên không cần ai. Thói đời từ xưa vẫn thế. “Còn bạc còn tiền còn đệ tử”. Nhân nhiều lúc muốn bày tiệc mời cụ, ông bà, anh chị em đến chơi cho vui vẻ. Vợ không đồng ý, đành thôi. Vợ nói, mua các thứ mang về ông bà, mời mọi người, việc gì phải bày vẽ, rách việc, bẩn nhà, dọn dẹp hết hơi. Ai mà chịu được?

       Cô đưa tiền cho chồng, bảo về nhà làm. Nhân không muốn thế. Làm thế không có ý nghĩa. Ông bà có thiếu đâu? Chú Dũng bên Đức thường gửi tiền, hàng về giúp đỡ. Ông bà không cần tiền của vợ chồng Nhân. Ông Phú biết người con dâu keo kiệt nên khi Nhân đưa tiền, ông không nhận. Nhân khó nghĩ, chẳng biết nói sao, mang tiền trả vợ. Cô ta cất ngay vào tủ, lẩm bẩm: “Cơm không ăn, gạo còn đó, lo gì? Càng tốt, tiết kiệm được một khoản, tích lại để làm nhà”. Cô mua được miếng đất đẹp mặt đường trung tâm huyện lỵ. Làm nhà ra ở cho sướng. Nhân hỏi sao không làm nhà ra ở cho thoải mái. Cô lườm chồng: “Đàn ông các anh chả biết quái gì? Nhà mình ở đây chờ được thanh lý căn hộ khu tập thể, việc gì mà vội. Mình ra ở ngoài không được phân. Anh đúng là thằng ngốc!”

 - Người ta nói đàn bà chúa khôn vặt, tham lam, có voi đòi tiên, lòng tham vô đáy. Có một cái nhà, lại muốn có hai, có ba, biết bao nhiêu cho vừa. Muốn cả thiên hạ về nhà mình.

- Dễ đàn ông không tham, chỉ có anh là thằng ngốc không tham. Thiên hạ họ tham đầy ra. Anh có biết tay Thỏa bao nhiêu nhà đất? Họ kháo nhau nó có bốn chục suất khắp huyện đấy. Mỗi xã khi cần duyệt bán đất, biếu hắn một vài suất. Ngay phố huyện có mấy nhà toàn chỗ đẹp, cổng chợ phủ, kho lương thực, sau nhà ủy ban, toàn bạc tỉ.

- Đàn bà các em, toàn ngôi lê đôi mách, toàn chuyện nghe hơi nồi chõ.

- Đàn ông các anh chỉ biết rượu chè, nhậu nhẹt, cờ bạc, đề đóm, chẳng biết quái gì? Tay Huỳnh chủ tịch đương nhiệm cũng có hai nhà mặt đường cực đẹp. Lại còn bọn xây dựng bao thầu sân vận động, biếu một căn hộ ở thủ đô rất sang trọng. Vợ hắn cùng cơ quan em, ai cũng biết…

- Thôi, thôi, anh không quan tâm việc thiên hạ, em liệu thu xếp việc nhà để anh cùng chú Nghĩa đi tìm thím ấy. Mình lo việc gia đình, mặc xác thiên hạ. Họ giàu có thì họ ăn. Mình nghèo vẫn sống như ai, có làm sao? Nghèo mà lương thiện, trong sạch là tốt.

      Cần quái gì của “phù du” ấy. Đời người sống được mấy mà bon chen cho mệt, xuống lỗ là như nhau cả thôi. Có ai mang được nhà cửa xuống âm phủ?

- Đúng là giống nhà anh, giống nhau như đúc từ ông cụ, bố anh,toàn những người chê tiền, chê vật chất. Thử hỏi không có tiền, có sống nổi một ngày.

- Thì vẫn sống nhăn răng cả đấy, có ai sao đâu? Tiền bạc mà làm gì? Con người ta phải sống có tình, có nghĩa, nhân ái, bao dung…
- Nhà anh toàn một hạng “hủ nho”, toàn tư tưởng “thanh bần lạc đạo”. Duy có chú Nghĩa thực tế một chút, nhưng lại ăn chơi quá đà, cờ bạc rượu chè bét nhè, vợ con lại lăng loàn.

- Cô thì biết quái gì Nho giáo mà nói, đến như tôi được các cụ dạy dỗ theo tư tưởng Nho giáo mà chưa hiểu biết mấy, cô làm sao hiểu nổi. Hạng tiểu nhân như cô biết sao cái “đạo người quân tử”

- Anh bảo ai tiểu nhân, có nhà anh toàn “quân tử cuồng” thì có. Nghèo kiết xác còn sĩ diện. Quân với chả tử.

- Thôi! Thôi,Cô im cái miệng đi cho tôi nhờ. Cô chê nhà tôi nghèo thì tìm thằng nào giàu có mà  sống với họ. Xem người nào quyền cao chức trọng giàu có mà sống cho sướng đời, ở với tôi khổ cả đời.

- Ái chà! Anh định bỏ tôi đấy phỏng? Hay anh có con nào rồi, định giãy gái này ra hả? Đây nói cho mà biết nhé, gái này hô một tiếng ối thằng theo nhé! Khối thằng tranh nhau rửa chân cho nhé! Anh tưởng mình chúa lắm hả? Báu đế lắm hả? Loại đàn ông trên răng dưới “cắc tút” như anh tôi vơ cả đống nhé!

- Cô làm đơn đi, tôi giải thoát cho cô khỏi phải sống với thằng khố rách áo ôm này! Tôi ới một tiếng khối em theo nhé! Đừng có tưởng!
- Ối trời ơi! Chả trách lâu nay anh chả hỏi gì đến mẹ con tôi sống chết thế nào? Thì ra lâu nay anh vẫn dấm dúi, tí tởn với mấy con nặc nô, mắt xanh mỏ đỏ, nên giờ định giãy tôi ra chứ gì? Trời ơi là trời! Chồng con ơi là chồng con! Có khổ thân tôi không hả trời! Lâu nay tôi vẫn tin tưởng anh, tôn thờ anh, công an các anh có tiếng là rất nghiêm túc, ai ngờ, thế là tôi lầm,tôi có mắt như mù! Tôi bị lừa,trời ơi là trời!

- Đấy là do cô tự bới ra chứ! Cô chê tôi nghèo, nhà tôi toàn “quân tử cuồng” đấy chứ. Tôi nói tỉ dụ thế chứ!

 - Đàn ông các anh người nào chả thế. Chỉ dẻo mỏ, khi cần người ta thì ỏn ẻn, “anh yêu em, anh nhớ em, suốt đời anh chỉ có mình em”… Bao nhiêu ngôn từ hoa mỹ đều trôi ra được, cốt che đậy động cơ bên trong. Anh nào chả mèo mỡ, bồ bịch bên ngoài. Toàn lừa vợ đi với các em mặt búng hơi sữa, bị nó móc hết chỉ còn hòn dái mang về. Lúc khỏe mạnh đi với gái, lúc ốm đau lại về vợ con hầu hạ phục dịch. Thật khổ cho cánh phụ nữ chúng tôi, toàn nhẹ dạ cả tin, toàn bị lừa. Chẳng nói đâu xa, chú Nghĩa nhà anh ấy, đuổi vợ đi, rước gái về nhà nhà ngang nhiên sống với nhau như vợ chồng. Thế mà nhà anh ai mở miệng ra cũng “Nho giáo”, trọng danh dự, nhân, nghĩa, lễ, tôn ti trật tự. Toàn nói mỹ từ cả thôi, toàn bịp bợm cả thôi. Tôi còn nghe mọi người nói bọn “Tứ quái” huyện mình nữa. Toàn bọn có chức quyền, bồ bịch, ruồng rẫy vợ con…

- Cô câm miệng đi! Nói năng bậy bạ.

    Nhân bực tức bỏ ra quán uống nước, mặc vợ lẩm bẩm, ca thán mãi.

    Buổi tối hai vợ chồng lại làm lành với nhau. Thì ra người ta nói đúng thật. Cách tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng là lôi nhau lên giường. Tình dục thỏa mãn giải tỏa mọi bức xúc, mâu thuẫn vợ chồng. Khi cả hai hòa làm một thể xác và tâm hồn. Nhân biết vợ chỉ bạc miệng thế thôi, không để bụng. Chỉ vì bức xúc, lo cho chồng con, cho gia đình riêng nên nói thế. Vợ chồng ở với nhau tránh sao sự va chạm mâu thuẫn…

Sáng dậy, vợ Nhân vui vẻ, cười nói tíu tít, còn hỏi có phải chuẩn bị tiền nong để đi với chú Nghĩa. Nhân nói không phải lo, bố đã thu xếp cả. Chú út bên Đức làm ăn khá lắm. Đã có “viện trợ không hoàn lại” lo gì, cứ việc ăn tiêu thoải mái. Chú Dũng giờ là “triệu phú” rồi, nghe nói có cả công ty làm ăn lớn lắm. Chú muốn đưa cả nhà đi du lịch châu Âu một chuyến, nhưng ở nhà còn nhiều việc và mắc mớ chưa thu xếp được. Mình không phải lo chuyện tiền nong.

 

                                                                                                                        *  * *

       Ái là cháu cụ đồ Vận ở làng bên, là cô gái đầy đặn, trắng trẻo, mặt như trăng rằm, tóc đen nhánh. Khi cô học xong trung cấp ngân hàng về công tác ngân hàng huyện. Có nhiều đám mối manh ngấp nghé. Có cả một anh đi tàu viễn dương rất giàu có muốn cưới cô. Nhưng cụ đồ Vận hâm mộ gia đình cụ Quí truyền thống Nho giáo từ mấy đời lại cách mạng, có nề nếp gia phong nên đã chấm cậu Nhân cháu nội cụ Quí. Các đám khác đều bị bật ra. Ái về làm dâu nhà ông Phú, một gia đình “danh gia vọng tộc” trong vùng là một vinh dự lớn đối với gia đình cụ đồ Vận.

      Là người theo “Nho giáo” cụ đồ muốn kết thân với gia đình “Nho giáo”, hai gia đình kết thân, môn đăng hộ đối. Nhân lấy được cô Ái dựa vào thế lực gia đình. Bản thân anh ta không đọ được với mấy người theo đuổi cô. Thời bấy giờ cha mẹ vẫn có quyền lực rất lớn với việc hệ trọng đời người con gái. Thanh niên nam nữ ít tự tìm hiểu nhau, phần lớn vẫn do gia đình sắp đặt. Ái là một cô gái gia đình nề nếp, vui vẻ chấp nhận sự sắp đặt của ông bà cha mẹ. Nhân là một sĩ quan cảnh sát, cũng là đối tượng nhiều gái làng ngưỡng mộ.

      Thời bao cấp, các ngành nghề đều như nhau, chưa có sự chênh lệch giàu nghèo, thu nhập. Công viên chức nhà nước, có lương và các loại tem phiếu là hơn người nông dân, không phải chân lấm tay bùn, suốt ngày lội ruộng, một nắng hai sương, chổng mông lên trời, bám theo đít trâu; là sự mơ ước của nhiều người. Ngoại trừ cánh thương nghiệp thực phẩm, lương thực dựa vào quyền hành phân phát, được lợi chút đỉnh. Còn ngân hàng, giáo viên, bộ đội, công an, các cơ quan Đảng, chính quyền như nhau cả.

     Cô Ái về nhà chồng sống vui vẻ hòa thuận, không có điều tiếng. Gia đình cụ Quí, có lễ nghĩa phép tắc, tôn ti trật tự nên mọi người sống vui vẻ. Vài năm sau, vợ chồng cô ở riêng trong khu tập thể ngân hàng cho thuận công tác. Không phải sống cảnh mẹ chồng nàng dâu, nên không có va chạm, mâu thuẫn, xung đột xảy ra. Đến khi cơ chế thay đổi, cán bộ ngân hàng lợi dụng nắm tiền trong tay. Các cơ quan xí nghiệp làm ăn kinh tế cần vốn nhiều, cán bộ ngân hàng trở nên có quyền lực. Quyền lực đồng tiền rất ghê gớm trong thời buổi kinh tế thị trường. Một số cán bộ ngân hàng nhờ khôn ngoan, khéo xoay xở, trở nên giàu có. Khi có tiền họ đầu cơ đất đai, buôn bán, cho vay lãi, lợi nhuận càng lớn. Cô Ái nhờ thế cũng kiếm được chút đỉnh. Có tiền con người ta dễ thay đổi. “Có tiền mua tiên cũng được”. Câu nói cửa miệng từ xưa bây giờ người ta mới “mục sở thị”. Tiền sẵn trong tay lợi hại vô cùng. Tiền bạc xâm nhập mọi ngóc ngách cuộc sống. Nhờ tiền người ta giải quyết nhanh chóng nhiều vụ việc đến không ngờ. Một người đã từng nói: “Cái gì không mua được bằng tiền, thì sẽ mua được bằng nhiều tiền.” Những người tôn thờ kim tiền đều thấu hiểu câu nói chí lý đó. Những người xưa nay không quen giải quyết công việc bằng tiền chưa tin chân lý đó, thường nói không phải cái gì cũng mua

được bằng tiền. Cũng rất chí lý. Nhưng những ai trải qua cảnh ngộ mới thấu hiểu chân lý bí hiểm đó. Có nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Người ngoài cuộc không hiểu được. Xưa nay người giàu, người nghèo thường không ưa nhau, là lẽ tự nhiên ở đời. Có một thời người ta rất tự hào với lý lịch ba đời bần cố. Lý lịch trong sạch. Là do quan niệm cố hữu, sai lầm về chủ nghĩa tư bản. Quan niệm lệch lạc, ấu trĩ về sự bóc lột, về giá trị thặng dư,còn quá nông cạn, hời hợt về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chế độ tự cung tự cấp không coi trọng kinh tế hàng hóa, không làm kinh tế thị trường, không phát triển thương nghiệp, ngoại thương. Còn cảnh cấm chợ ngăn sông, hàng hóa không được lưu thông. Nơi thừa, nơi thiếu… Dẫn tới sản xuất theo kế hoạch nên khan hiếm hàng hóa. Phải phân phối tranh giành nhau những vật dụng tầm thường nhỏ bé: “Một yêu anh có may ô, hai yêu anh có cá khô ăn dần”. Tình yêu còn phụ thuộc mấy thứ lặt vặt. Phải chia nhau từ chiếc đũa xe đạp, cái lốp, cái săm. Không dùng đến, nhưng vì được phân phối, cứ lấy. Mua dự trữ để đấy, có khi chả bao giờ dùng. Để mốc trong tủ, cho thì tiếc, bán không bõ. Cứ vứt va vứt vưởng, lâu ngày không dùng được, vứt ra bãi rác. Dân không có pin dùng, nhưng thương nghiệp đổ đi hàng thùng, vì để lâu, chảy nước hỏng hết. Sữa bò

thối ra mới bán, phải đun lên mới ăn, mùi thum thủm như cóc chết. Mà phải có phiếu của khoa sản cấp cho người mất sữa mới được mua cho con ăn. Có phải ai cũng mua được. Thật kì dị, nghĩ lại thời kỳ đó, không hiểu nổi!

Một cuộc trường chinh vạn dặm chưa từng có với anh em Nhân - Nghĩa. Cứu người là việc quan trọng, không thể thấy chết mà không cứu. Tư tưởng nhân, nghĩa thấm sâu vào máu thịt từ bao đời nay, chảy trong huyết quản con người Việt Nam. Bà con cô bác họ hàng làng xóm đều đến động viên gia đình và anh em Nghĩa nhanh chóng tìm được cô Tình trở về đoàn tụ. Ai nấy đều hy vọng chờ đợi, từng ngày từng giờ. Ông Phú dặn hai con phải thường xuyên liên lạc và báo tin cho ông, nhất là khi có sự cố xảy ra. Ông còn nhờ bạn bè giúp đỡ kịp thời. Nhờ sự giúp đỡ của chính quyền đoàn thể, các cơ quan chức năng. Anh em Nghĩa làm thủ tục sang thành phố Nam Ninh - thủ phủ tỉnh Quảng Tây tìm cô Tình. Sau một tuần dò hỏi, tìm kiếm theo địa chỉ mà cô bạn cô gái làm thuê cho Nghĩa. Khi đến nơi mới biết cô Tình đã bị đưa đi thành phố Quảng Châu. Hai anh em lại lên đường. Nằm tàu suốt đêm vượt qua gần nghìn cây số đến thành phố. Thuê chỗ trọ nghỉ ngơi, làm các thủ tục cần thiết. Lại tiếp tục tìm kiếm, nhờ chính quyền, công an nước bạn giúp đỡ. Sau một tuần,lại biết cô đã đi Thâm Quyến. Nghĩa tức muốn bỏ cuộc, chửi đổng ầm ĩ. Nhưng ông Phú giao trách nhiệm cho Nhân, phải động viên em tiếp tục. Đã mất công sang, phải tìm bằng được mới về. Nhân động viên Nghĩa coi như đi du lịch Trung Quốc. Được nhìn thấy sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Trung Hoa sau gần hai thập kỷ cải cách, mở cửa. Đất nước Trung Hoa có sự phát triển vượt bậc, làm kinh hoàng cả thế giới. Sự trỗi dậy của Trung Quốc được cả nhân loại ngưỡng mộ.

      Riêng việc giải quyết cái ăn, cái mặc cho hơn tỉ người đã là việc thần kỳ. Công nghiệp, dịch vụ của họ cũng phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhà cao tầng mọc như nấm sau cơn mưa. Đường phố rất sạch sẽ, cây xanh khắp nơi. Dọc quốc lộ, cây xanh mấy từng. Hai bên đường không có nhà cửa như ở ta. Ngoài đường rất ít người qua lại. Do các xí nghiệp hương trấn phát triển, người Trung Quốc ly nông, nhưng không ly hương. Họ có việc, đi lại trên đường rất ít. Đất nước hơn tỉ dân, mà thấy ít người, như họ biến đâu mất. Không chen vai, thích cánh, tràn đầy mặt đường như bên ta.

     Thành phố Quảng Châu cực kỳ phát triển. Đường mấy tầng nên không có giao lộ. Cầu vượt trên cao ngang tòa nhà bốn tầng. Hai bên các chậu hoa kê san sát không có cảm giác nóng bỏng khi đi trên đường bê tông. Đường phố rất mát mẻ do hai bên cây xanh tỏa bóng. Không có rác vứt ra đường. Hai anh em nghỉ ở khách sạn mười bảy tầng. Các tòa nhà cao tầng nhiều vô kể. Họ không thể tưởng tượng sau hai thập kỷ cải cách mở cửa, đất nước Trung Hoa lại phát triển mạnh mẽ như vậy? Anh em Nhân không biết tiếng nên phải thuê người phiên dịch. Đến Nam Ninh đã thấy thành phố hiện đại, cực đẹp. Nhưng so với Quảng Châu còn kém xa. Đến Thâm Quyến lại ngỡ ngàng về sự giàu có, hiện đại của thành phố này.          Đặc biệt cây xanh nhiều vô kể, như đi lạc vào rừng. Đường phố thẳng tắp. Vì thành phố trẻ, mới xây dựng nên rất quy củ, đẹp đẽ ngoài sức tưởng tượng của họ.

Dọc đường anh em Nghĩa trầm trồ thán phục. Họ hỏi người phiên dịch đủ thứ. Cái gì cũng thấy lạ mắt vì ở Việt Nam không có. Trước đây ở nhà nghe đài, báo chí nói về sự phát triển thần kỳ của Trung Quốc. Nhưng phát triển thế nào không biết, giờ đây mới mục sở thị về sự phát triển của họ. Các tòa nhà đủ màu sắc. Có tòa nhà màu vàng, trông xa như một khối vàng khổng lồ, nhìn lóa mắt. Nghe người phiên dịch nói, khi xây dựng đặc khu kinh tế Thâm Quyến, mới đầu người ta còn e ngại, sợ chính phủ Trung Quốc thay đổi. Họ rụt rè không dám đầu tư. Ông Đặng Tiểu Bình phải đến giải thích với các nhà đầu tư Hoa Kiều ở ngước ngoài, và các nhà đầu tư khắp thế giới là: “Chính sách của chính phủ Trung Quốc một trăm năm không thay đổi. Các ông cứ yên tâm đầu tư”. Từ đó họ ầm ầm kéo vào. Thâm Quyến từ một làng chài nhỏ bé phát triển thành một thành phố hiện đại bậc nhất Trung Quốc và thế giới. Sự phát triển nhanh tột bậc. Mỗi tòa nhà khi xây dựng chỉ cần ba ngày đã xong một tầng. Tốc độ khủng khiếp. Người dân Thâm Quyến có hai loại. Một loại ngày mai đi kiếm tiền ở đâu? Một loại ngày mai đi tiêu tiền ở đâu? Đó là những người gốc Thâm Quyến, họ được chính phủ đền bù đất đai khi giải tỏa. Có người được hàng trăm triệu tệ. (Quy đổi ra tiền Việt Nam là bao nhiêu tỉ?)

      Nhưng sự phát triển bao giờ cũng có hai mặt. Ở Thâm Quyến có khu phố “vợ bé”. Các cô gái trẻ đẹp khắp đất nước Trung Hoa đến Thâm Quyến tìm cơ hội đổi đời. Họ chấp nhận làm vợ bé, bồ bịch các đại gia, các ông chủ Hoa Kiều đến từ Hồng Kông, Đài Loan, và khắp nơi trên thế giới về đầu tư. Các cô ở nhà lầu, xe hơi, suốt ngày ăn chơi, nhảy múa. Sống trong những căn nhà hiện đại, toàn tiện nghi đắt tiền, phục vụ nhu cầu tình dục của các ông chủ lắm tiền, đa tình.

      Coi là một sự may mắn! Không phải: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Họ sống sung sướng trong nhung lụa, trong vòng tay các ông chủ lớn tuổi, lắm của, nhiều tiền. Họ vốn là các cô gái nghèo khổ ở khắp nơi trên đất nước Trung Hoa mênh mông.             Không đủ ăn, đủ mặc, đến Thâm Quyến tìm sự thay đổi cuộc đời tối tăm nơi miền quê nghèo khó. Để trở thành phu nhân các nhà tư sản, bước chân vào xã hội thượng lưu, chốn phồn hoa đô hội. Mà xưa kia chỉ có trong thế giới tư bản. Không có ở đất nước Trung Hoa cộng sản vĩ đại. Họ từ một cô gái lọ lem, sau một đêm trở thành nàng công chúa sống trong lâu đài nguy nga, mỹ lệ mà trước kia trong mơ cũng không thấy. Đời người được bao lâu, cứ sung sướng cái đã. Dù kiếp vợ lẽ, con thêm không làm họ băn khoăn day dứt. Đồng tiền có sức mạnh kinh khủng, thay đổi nhiều nếp nghĩ cổ xưa của con người. Cuộc sống hiện đại, với biết bao vui thú, ham muốn, hãy hưởng thụ đã. Khi các ông chủ chán họ, thì chia tay phải chia tài sản cho họ. Họ sẵn sàng chấp nhận số phận. Nhưng vẫn giàu có, sung sướng. Rồi có thể họ lại làm vợ bé một đại gia khác. Hoặc kiếm một người chồng trẻ nghèo khó đang tìm sự đổi đời từ vùng quê nghèo khó như họ trước kia. Vòng quay tiền bạc, ái tình cứ lặp lại. Cũ người mới ta, có sao đâu!

      Tư tưởng con người ngày nay rất thoáng. Sự phát triển của xã hội nhanh đến chóng mặt, hơi sức đâu suy nghĩ nhiều cho mệt. Sướng ngày nào hay ngày ấy. Đó là lối sống gấp, hưởng thụ của thế giới tư bản, thế giới kim tiền. Ảnh hưởng đến phương Đông. Nơi xưa kia chỉ tôn trọng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Cái tư tưởng ăn không cầu no, ở không cầu yên của người quân tử. Đó là những mặt nổi của sự phát triển, của thế giới tư bản.          Đằng sau nó còn bao kiếp người đau khổ, nghèo khó, bao cảnh đời cơ cực, cay đắng không nhìn thấy. Bao nhiêu hệ lụy, khoảng cách giàu nghèo.

      Ông Đặng Tiểu Bình có câu nói rất nổi tiếng: “Mở cửa, ruồi muỗi vào theo”. Đó là sự trả giá, phải chấp nhận, không thể khác, nếu không muốn mãi tụt hậu. Đó là quy luật tất yếu…

      Cuối cùng cũng tìm thấy cô Tình. Vợ chồng, anh em nhìn nhau, vui mừng trong nước mắt. Tuy vợ chồng Nghĩa lúc đầu hơi sượng sùng vì những lỗi lầm gây ra cho nhau. Nhưng sau bao ngày xa cách nhớ nhung, họ quên quá khứ, nhìn thẳng vào tương lai.

      Nghỉ ngơi vài ngày, làm một số thủ tục cần thiết, rồi vui vẻ về cố hương.

     Cuộc tìm kiếm không khác Kim Trọng tìm Kiều. Gia đình ông Phú vui vẻ. Vợ chồng Nghĩa sum họp đoàn tụ, quyết làm lại cuộc đời, đoạn tuyệt với quá khứ, sống lương thiện, nuôi dạy con cái,một thời gian sau Nghĩa nhận được thư cô gái làm thuê, em kết nghĩa báo tin, cô đã tìm thấy hạnh phúc đời mình. Cô gặp một chiến sĩ biên phòng thương yêu cô. Họ chuẩn bị làm lễ cưới. Họ mời vợ chồng Nghĩa đến dự ngày vui hạnh phúc của họ. Vợ chồng Nghĩa vui vẻ nhận lời.


HẾT

  

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

65 Nguyễn Du, Hà Nội

Tel/ Fax: 043.822.2135

Email: nxbhoinhavan@yahoo.com.vn


Cha và con

TIỂU THUYẾT


LÊ VĂN THỌ

 

Chịu trách nhiệm xuất bản

PHẠM TRUNG ĐỈNH

Chịu trách nhiệm bản thảo

TRẦN QUANG QUÝ

Biên tập

THANH VÂN

Sửa bản in

TÁC GIẢ


Liên kết xuất bản

CÔNG TY

CỔ PHẦN VĂN HÓA ĐẤT VIỆT

Văn phòng giao dịch

SỐ 12, NGÕ 521/51 TRƯƠNG ĐỊNH, TÂN MAI, HOÀNG MAI, HÀ NỘI

Điện thoại

0466.758.871 - 0942.382.240

Mail: vanhoadatviet68@ gmail.com
Hoặc: kiennguyenthe@gmail.com website: vanhoadatviet.com


Tổ chức bản thảo, biên tập vòng 1

CTY CP VĂN HÓA ĐẤT VIỆT

Trình bày & thiết kế bìa

PHÒNG THIẾT KẾ

CTY CP VĂN HÓA ĐẤT VIỆT

 


In 500 bản, khổ 13 x 20 cm tại Công ty TNHH In & TM Châu Anh Giấy đăng ký KHXB số: 1378-2013/CXB/23-50/HNV
Số Quyết định xuất bản của giám đốc: 797/QĐ-NXB HNV In xong và nộp lưu chiểu: Quý IV - 2013


Người đăng tin: Lê Văn Thọ

Tác giả bài viết: LÊ VĂN THỌ - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước