TIỂU THUYẾT : CHA VÀ CON -1 [Tiểu thuyết]

Thứ năm - 27/08/2015 09:20

LE VAN THO  Ti ể u thuy ế t CHA VÀ CON   NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2013                                       “Vãn giác văn chương chân tiểu kỷ. Tảo tri phú quý hữu nguy cơ.”                 “Về già mới hiể...

LE VAN THO 

Tiu thuyết

CHA VÀ CON 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2013

 

               

                    “Vãn giác văn chương chân tiểu kỷ. Tảo tri phú quý hữu nguy cơ.”
                “Về già mới hiểu văn chương chỉ la trò tiểu xảo. Nhưng sớm đã biết trong phú quý vẫn tiềm ẩn nguy cơ”.

 

 

 



 

 

 

          Ngôi nhà cổ năm gian của gia đình ông Phú tọa lạc trên khu vườn lớn, xung quanh tường xây bao bọc. Gian giữa kê bộ hương án chạm trổ văn hoa cầu kỳ, rất quý hiếm, truyền lại từ cụ Tằng tổ. Cụ đi lính triều đình nhà Nguyễn đến chức “Đội”. Lúc ra quân, cụ mua được ngôi nhà của một ông tri phủ Quảng đã thất thế. Thợ lắp ráp sửa chữa, dựng lại hai tháng mới xong. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, thời tiết nắng mưa vẫn hiên ngang vững chãi cùng dòng đời xô đẩy, đổi thay qua mấy triều đại.
       Gia đình ông từ nhiều năm tổ chức buổi họp mặt con cháu vào ngày cuối tháng âm lịch, thắp hương tổ tiên, ăn bữa cơm sum họp, gọi là có thêm chất tươi bồi dưỡng. Cây nhà lá vườn, từ những sản vật tự tăng gia như gà, vịt hoặc thịt lợn, thịt chó mua ở chợ Bái,chợ Quán, chế biến thêm rau dưa, hoa quả vườn nhà. Trong những năm tháng khó khăn, tổ chức một bữa ăn như vậy không đơn giản,quê ông, dân nghèo xơ xác, quanh năm ăn độn ngô khoai mấy khi có chất tươi ngoài ngày Tết, giỗ chạp.
        Gia đình ông thuộc loại có máu mặt trong làng. Cụ cố làm Chánh tổng, ông nội là Lý trưởng, bố ông là cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ huyện ủy. Ông Phú công tác trên Trung ương, sau tăng cường huyện ủy. Trưởng ban Tuyên huấn huyện ủy cho đến khi về hưu.
         Dù thời thế thay đổi, gia đình ông luôn có “chức sắc” nối tiếp nhau, người làng rất khâm phục, vì nể. Hơn một trăm năm qua, gia đình ông luôn nắm quyền lực ở làng xã. Ông Phú hy vọng con cháu giữ được truyền thống gia đình dòng họ, để không hổ thẹn với tổ tiên, làng xóm. Gia đình ông từ xưa các cụ đều theo Nho giáo, nuôi thầy đồ trong nhà để dạy con cháu học chữ Thánh hiền. Tuy không có “Khoa bảng” nhưng học được cái đức người quân tử, thấm nhuần tư tưởng: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín rất có phép tắc, quy củ. Đời đời giữ gìn nền nếp, gia phong của gia đình Nho giáo!
      Buổi tối hôm đó, gia đình họp mặt như thường lệ và có một số việc bàn bạc. Ngồi mâm trên có cụ Quý, bố ông Phú, ngoài tám mươi, mắt hơi kém nhưng rất minh mẫn; ông Phú cùng ba người con trai: Thương, Nhân, Nghĩa; cậu út Dũng vắng mặt sống bên Đức.
      Mâm dưới bà Hiền - vợ ông Phú cùng ba cô con dâu: Nhớ, Ái, Tình, mấy đứa cháu nội. Mẹ ông mất đã lâu.
      Ông có cô con gái làm việc trên Thái Nguyên, ít khi có mặt. Hơn nữa gia đình ông rất phong kiến: “Con gái là con người ta” nên cô Hòa, con gái ông không dự bàn việc gia đình. Nhà ông, đàn ông, con trai ngồi mâm trên sập kê giữa nhà, dưới bàn thờ tổ tiên. Đàn bà con gái, cả mẹ ông khi còn sống, ngồi đất cùng trẻ con.
    Trong những bữa cơm sum họp rất nghiêm trang, phép tắc, mọi người lầm lũi, chỉ có tiếng nhai lạo xạo, lách cách do bát đũa va chạm. Ít khi cãi cọ, to tiếng hay cười đùa. Nề nếp, gia phong được các cụ gây dựng, các đời sau cứ thế nối tiếp thực hiện, không có bàn cãi, thay đổi !?
      Mọi người ăn uống vui vẻ, bỗng tivi bật sáng, trên màn hình xuất hiện đôi trai gái đang làm tình trần như nhộng. Lúc đầu không ai để ý. Do mấy đứa trẻ chỉ trỏ, cười toáng, mọi người nhìn thấy. Mấy người phụ nữ xấu hổ, mặt cúi xuống nhưng vẫn lén nhìn. Mấy anh con trai tủm tỉm cười. Cụ Quý mắt kém, nhìn không rõ, chẳng biết việc gì. Ông Phú ngồi quay lưng lại tivi chưa biết, khi đứa cháu gọi:
- Ông ơi, trông kìa, hay chưa, họ cắn nhau.
   Ông Phú nghe gọi, quay lại nhìn, miệng đang ngậm miếng thịt chó làu bàu:
- Đứa nào giở trò khỉ, có tắt đi không?
Thương đứng dậy tắt làm bọn trẻ chưng hửng. Ông Phú tra khảo: “Đứa nào có cái trò khỉ?”
Mấy anh con trai lấm lét, lúng búng: “Chúng con không biết”.
Ông Phú quát:
- Chỉ mấy các anh, nhà này ai có thứ đó!
Thương cúi mặt không nói, xưa nay anh ta vẫn ngậm miệng ăn tiền, mặt lúc nào cũng lì, không biểu lộ cảm xúc.
Nhân liếc mắt nhìn Nghĩa dò hỏi: “Chắc chỉ chú, ai có thứ ấy.”
Nghĩa tỉnh bơ, không ra vẻ từ chối hay nhận. Ông Phú lại quát:
- Không của ai? Nó trên trời rơi xuống à? Hay của cụ, bà nó và mấy chị?
Không khí nặng nề, căng thẳng, chẳng ai dám nhận của nợ ấy. Mọi người nghi ngờ, nhìn nhau dò hỏi, không ai mở miệng.
Một lúc sau, Nghĩa lên tiếng: Bây giờ cả nước xem, đâu chỉ nhà mình?
Mọi người đổ dồn mắt vào Nghĩa, Nhân nói:
- Thế của chú rồi, sao từ nãy không nhận, để bố tức?
Nghĩa cãi:
- Ai bảo của tôi, chắc mấy đứa nhỏ nhặt được, mang về?
Mấy người con dâu cãi:
- Chúng nó còn bé, biết gì mà xem thứ ấy? Chỉ mấy ông xem rồi để quên trong máy.
Nghĩa phản ứng:
- Ô hay, sao lại gắp lửa bỏ tay người. Chúng tôi ai dám đưa vào máy của cụ xem. Cụ chả chửi cho mục mả!
Mấy người cãi nhau, rồi thì thầm, rút cục cụ Quý biết chuyện, cụ lẩm bẩm:
- Bọn trẻ bây giờ nhố nhăng, chẳng giữ nền nếp, gia phong. Hỏng! Hỏng hết! Rồi mất nước vì bọn này. Ngày xưa chúng tôi…
Nghĩa cãi:
- Cụ lúc nào cũng ngày xưa, ngày xưa,toàn truyện cổ tích, chuyện đánh Tây,Tây chết bố từ đời thuở nào rồi vẫn còn đánh Tây. Cụ đánh Tây cả đời chắc. Có khi lên thiên đàng cụ vẫn đánh Tây?
   Đứa cháu gọi: Ông ơi (thực ra phải gọi cụ), lát nữa ông kể chuyện ngày xưa ông đánh Tây ở bốt Phương Trù cho chúng cháu nghe nhé! Thằng Tây nó cao thế này, ông thấp bé hơn nó, ông đánh nó một phát, nó đổ thế này...
Cụ Quý gườm gườm nhìn đứa cháu:
- Bố sư nhà mày! Rồi cụ lẩm bẩm: Làm gì thì làm, nhưng phải giữ cái gốc, giữ gìn bản sắc, phải có đạo đức, có tâm, có lễ nghĩa…
Nghĩa đốp chát:
- Ông lại nói “Ý đẹp lời hay rồi”. Chúng cháu nghe mãi chán lắm. Thế đạo đức là cái gì?
Cụ Quý nhiếc:
- Các anh giờ chỉ biết tiền, vàng, đô la, Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng, tiền bạc rồi hết, chỉ có cái đức của người quân tử là bền vững. Ăn không cầu no, ở không cầu yên là chí người quân tử…
Nghĩa vẫn hung hăng:
- Thời các cụ rao giảng, thuyết giáo mị dân qua rồi, có thực mới vực được đạo…
Ông Phú quắc mắt: - Không được hỗn!
Bà Hiền sợ căng thẳng, dàn hòa:
- Xin cụ và mấy bố con ăn xong cho chúng nó dọn.
       Mọi người buông đũa cho mấy chị con dâu dọn mâm bát. Mấy đứa trẻ xem chương trình “Bông hoa nhỏ”. Mấy người đàn ông lại ngồi xếp bằng trên sập, uống nước chè, hút thuốc lào nhả khói um tùm, nói chuyện trên trời dưới nước, bàn thế sự và chính trị…
Ông Phú tay vê điếu thuốc, gọi với ra sân:
- Mấy mẹ con bà lên uống nước, tôi có việc bàn. Khi mọi người đông đủ, ông trịnh trọng:
- Tôi xin cải tạo cái vườn tạp - ông ngước nhìn trần nhà - đang tính xem có nên sửa cái nhà cổ, chuyển sang góc vườn, thu gọn làm nhà thờ. Xây một cái nhà hai tầng, công trình phụ khép kín cho tiện. Phía mặt đường xây một dãy ki ốt cho thuê, tăng thu nhập. Nhà mình đông người, chi tiêu lắm. Không biết lấy gì bù chỗ thiếu hụt, đồng tiền ngày càng mất giá, giá cả tăng vọt. Giờ xin ý kiến cụ, bà nó, các anh các chị bàn xem nên làm thế nào?
      Ông Phú ngừng lời, đưa mắt nhìn khắp lượt dò hỏi. Không khí im ắng. Ngoài vườn mấy con chẫu chàng kêu inh ỏi. Cụ Quý mơ màng nhìn bàn thờ thành kính, hồi tưởng quá khứ xa xăm, khẽ khàng, giọng khò khè, khó thở:
- Di tích tổ tiên để lại, không phá được, còn thờ cúng, động đến vong linh các cụ, không được đâu. Khi về với tổ tiên, cụ cố có di huấn cho con cháu: “Cơ nghiệp này do cụ phấn đấu gian khổ cả đời gây dựng, con cháu phải có trách nhiệm giữ gìn cho muôn đời.” Cụ ghi rõ ràng trong gia phả…
       Bà Hiền thở dài:
- Một đời làm chủ nhiệm hợp tác xã, gây dựng cái vườn, có cái rằm, mồng một thắp hương, con cháu có cái ăn, phá đi tiếc lắm !
      Ông Phú giải thích:
- Nhưng để thế này lãng phí đất không đem lại lợi ích kinh tế. Cây ăn quả chỉ ăn chơi. Ngôi nhà thì nằm chềnh ềnh giữa vườn, nhìn chướng mắt. Mà cũng ọp ẹp lắm rồi!
    Mấy người con trai, con dâu im lặng nhìn nhau...
Ông Phú hỏi:
- Ý các anh chị thế nào?
Thương mím môi, mặt lì xì, Nhân nhấp nhổm chưa biết thế nào. Nghĩa hùng hổ:
- Theo tôi phá tất, cây cối chặt hết, nhà dỡ ra, cái gì bán được thì bán, còn làm củi. Đất để ươm cây giống là “Có lợi ích kinh tế nhất” như bố nói. Xây một cái biệt thự hai tầng ở một góc vườn. Phía mặt đường xây cửa hàng buôn bán là tốt nhất. Hoặc chia cho mỗi người một khoảnh dọc theo mặt đường, ai muốn kinh doanh buôn bán thì tùy, là tốt nhất. Bây giờ hợp tác xã còn vỡ hết, chia ruộng đất cho người dân, tự do làm ăn không chịu sự lãnh đạo của ai. Nhà mình lại làm ăn theo kiểu hợp tác xã; “Cha chung không ai khóc”, “Lắm cha con khó lấy chồng”, là lạc hậu, lỗi thời…
    Ông Phú quát:
- Mày nói nhăng nói Cuội,còn cụ ngồi đây dám láo. Thằng trời đánh thánh vật! Im miệng ngay, mày còn coi ai ra gì. Cứ tưởng “Trứng khôn hơn vịt”…
    Nghĩa cãi:
- Bố hỏi ý kiến chúng tôi, lại còn mắng nhiếc.
- Tao hỏi góp ý xây dựng, ai cần phá đám.
- Ôi dào! Bố cứ quan trọng hóa vấn đề, làm kinh tế phải thoáng, không như công tác tuyên huấn, tuyên truyền của bố, suốt đời chỉ tuyên với truyền...
- À! Thằng này láo, mày bảo ai tuyên truyền,tao tuyên truyền bao giờ, mà tuyên truyền cái gì?
- Bố đúng là “giáo điều”. Về hưu rồi, mất hết chức quyền vẫn chưa nhận ra chân tướng sự việc. Bao năm bố đi tuyên truyền có ai nghe. Cái người ta cần là tiền, cần vốn làm ăn, ai cần mấy thứ đường lối chung chung của bố? Bố làm việc bao năm được cái gì? Một miếng đất không có, không làm nổi gian nhà để ở, không mua nổi cái xe máy để đi; vẫn cái xe đạp tòng tọc được phân phối từ đời nảo đời nào. Thế cũng gọi là kỹ sư kinh tế. Kinh tế cái cóc khô gì? Đói bỏ mẹ, còn hạnh phúc nỗi gì? Con cái chả nhờ vả được?
     Bố chả thấy tay Huỳnh - Chủ tịch huyện, hắn có tuyên huấn tuyên truyền đâu, có bằng kinh tế đâu, có học đại học đâu, thế mà nhà cao cửa rộng, con cái chạy xe ầm ầm, làm việc toàn chỗ ngon. Đứa Phòng Thuế, đứa Kho bạc, vợ thì làm Ngân hàng. Toàn ngủ trên đống tiền, ăn sung mặc sướng, gấp ngàn vạn lần nhà mình. Mang tiếng gia đình có công với cách mạng, với nước. Ông cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ huyện; bố chiến sỹ Điện Biên, chiến sỹ chống Mỹ, Thường vụ huyện ủy… Thế mà con thì đứa bộ đội canh gác biên giới, giữ vững biên cương cho Tổ quốc; người thì bảo vệ an ninh cho dân; người thất nghiệp thành dân tự do, vô công rồi nghề, ngồi chơi xơi nước, người phải lao động vất vả tận bên trời Tây, xa cách ngàn trùng,thật vô lý! Thế mà bố vẫn chưa nhận ra chỉ là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Bố toàn dạy các con phải sống có lý tưởng, phải trung thực, chăm chỉ học tập và lao động. Lao động khổ sai mới kiếm được miếng ăn. Miếng ăn sao đắng thế, khó nuốt thế. Hồi bé ngây thơ chưa hiểu việc đời, con tin vào những giáo điều của bố. Lớn lên trải nghiệm với cuộc sống thấy những điều bố dạy chỉ là lý thuyết suông, chẳng giúp ích cuộc sống thực tế của con. Từ lâu con không tin vào “lý thuyết giáo điều” của bố. Con phải tìm con đường đi cho mình mới tồn tại được ở cái thế giới này. Con cứ trông vào hình ảnh của ông và bố, những người suốt đời đi theo cách mạng, hy sinh cho Tổ quốc, trung thành với lý tưởng sống thế nào? Chủ nghĩa tư bản đang giãy chết, họ sống thế nào, ai nấy đều biết. Dân bây giờ họ biết hết. Thời của ông và bố khác bây giờ nhiều lắm. Con công nhận thời ông và bố sống rất liêm khiết, trong sạch,nhưng kết cục thế nào? Còn bây giờ những “công bộc”, “đầy tớ”
nhân dân sống thế nào? Ai dám bảo họ không yêu lý tưởng chủ nghĩa xã hội. Không trung thành với chủ nghĩa cộng sản. Nhưng trong nhà họ đầy “Tư bản”. Chả biết họ ghét chủ nghĩa tư bản đến mức nào? Nhưng tư bản cứ bám riết họ, gia đình vợ con họ, cứ ùn ùn kéo đến nhà họ.
       Nghĩa nói một thôi, sùi cả bọt mép, lúc đầu cả nhà ngỡ ngàng, ngơ ngác nhưng đều há mồm nghe thấy có lý, không sai.
       Cụ Quý, ông Phú từ tức giận đến sửng sốt, không hiểu sao hôm nay nó lại nói ra những điều tâm sự đắng lòng đến vậy? Không biết học ở đâu cái lối ăn nói sỗ sàng, huỵch toẹt thế, cái tư tưởng thực dụng thế?
    Cụ Quý rên rỉ:
- Thôi, nói bé thôi, người ta nghe thấy chết cả nút, toàn tư tưởng phản động? Người ta cho đi tù thì hết đời. Công lao của ông với bố cháu đổ xuống sông, xuống biển hết. Chưa cống hiến được gì, chỉ muốn hưởng thụ.
      Bất giác cụ nhớ lại thời kỳ “giảm tô cải cách”. Cụ suýt bị quy “phản động”, gia đình địa chủ bóc lột nhân dân. Có người tố gia đình cụ mấy đời hào lý bóc lột sức lao động dân nghèo mới có ngôi nhà to nhất làng. Họ tố cụ là “Quốc dân Đảng”, giả danh cách mạng chui sâu, leo cao vào hàng ngũ của Đảng để “phá từ trong phá ra”. Con trai cụ đang ở Điện Biên đã đầu hàng địch. May mà “sửa sai” kịp thời, được minh oan, nếu không có khi cụ mất đầu, bị xử bắn rồi. Ở làng có vài người chết oan, đến khi sửa sai, hồn đã về chín suối. Lúc bấy giờ cụ không hiểu sao như vậy. Cụ theo cách mạng từ nhỏ. Gia đình cụ là cơ sở bí mật, ông cha cụ nuôi giấu nhiều cán bộ nằm vùng. Tuy là hào lý nhưng các cụ thấm nhuần tư tưởng Nho giáo; hiểu Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín… tiếp thu nhanh tư tưởng cách mạng từ nhỏ. Các cụ hiểu nỗi khổ của người dân nô lệ, bị đế quốc xâm lược đày đọa. Những “chức sắc” nhỏ chỉ là “trên đe dưới búa’, phải chịu sỉ nhục. Đó là nỗi đau đời của người quân tử không gặp thời cuộc đem tài năng giúp đời, giúp nước. Cụ tuy không được học nhiều vì thời buổi Nho học thất thế nhưng ông nội và bố truyền khẩu, dạy dỗ từ bé nên cụ hiểu cái đạo nhân của Khổng Tử. Khi những cán bộ hoạt động bí mật chỉ giáo một số tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, cụ nhận thức ngay. Cụ hiểu chỉ có con đường cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân đế quốc; dân tộc Việt Nam mới đứng dậy, sánh vai các nước trên thế giới. Tuy không được học hành bài bản ở trường lớp nhưng cụ nhận thấy tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lê-nin có nhiều điểm tương đồng với “Nho giáo” cụ học từ bé. Gia đình cụ không có của nả để gọi là địa chủ. Cái nhà cổ, cụ cố mua từ thời Pháp chưa xâm lược Việt Nam, liên can gì đến cụ? Cha ông cụ là hào lý nhưng có nhân đức, không ức hiếp giết hại ai, chẳng qua thời nào cũng phải có chính quyền, có người cai quản xã hội. Chế độ nào chả thế. May mà các cụ đóng góp xương máu cho cách mạng, nếu không con cháu cụ khó ngẩng đầu lên được. Cụ hiểu, nhờ cách mạng, cụ Hồ gia đình cụ được như ngày nay, con cháu được học hành đầy đủ, có địa vị xã hội, ngẩng mặt với đời. Bọn trẻ ngày nay sinh ra, lớn lên khi đất nước độc lập nên không nhận thức được cái giá của độc lập tự do. Biết bao xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam đổ xuống mảnh đất hình chữ S để giành lại non sông đất nước mà cha ông gây dựng suốt mấy ngàn năm. Mặc dù ngoài xã hội còn nhiều tiêu cực tham nhũng nhưng xã hội nào chả có tiêu cực, tham nhũng. Nó là căn bệnh trầm kha của loài người từ khi có giai cấp. Có thể chế chính trị là có tiêu cực tham nhũng. Nó chỉ khác nhau về mức độ mà thôi. Con người có tư tưởng tham lam. Vì trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, với những lực lượng thần bí có sức mạnh ghê gớm. Con người hôm nay phải lo cho cuộc sống ngày mai để giành giật miếng cơm manh áo từ lực lượng vô hình và hữu hình, con người lo cho sự sống và cái chết nên có tư tưởng tích lũy dẫn đến tham nhũng, giành giật làm của riêng. Xét cho cùng, tham lam cũng đến thế thôi, đời người là hữu hạn, sống được bao nhiêu, ăn đủ, mặc đủ, ở đủ thì thôi, chết đều như nhau cả, có ai mang được của cải đi theo, sang thế giới bên kia cần gì của cải vật chất. Thế ôm rơm rặm bụng làm gì? “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”. Con người ta phải tự làm lấy mà ăn, chờ ăn sẵn, không lao động chỉ hưởng thụ còn ra con người nữa không?
        Cụ Quý hiểu rõ chân lý đó, cụ luôn giữ tiết tháo sống liêm khiết, luôn giúp đỡ bà con làng xóm; dạy dỗ con cháu chiến đấu, lao động và học tập cho xứng đáng “gia đình cách mạng” với tổ tiên. Cụ biết đứa cháu vì bất mãn cá nhân, vì mất việc ở cơ quan, phải kiếm sống tự do nên nổi loạn, so bì nói năng văng mạng không kiêng nể ai.   Từ lâu cụ đã biết cháu thậm thụt làm ăn buôn bán, không minh bạch trong sáng. Cụ nhiều lần nhắc nhở xa gần.Hôm nay nó nói những lời gan ruột. Cụ biết nó đi chệch con đường của cha ông, nhưng biết làm sao? Cụ lo lắng… Sống gần thế kỷ, từng trải, vào sinh ra tử đã nhiều, cận kề cái chết trong gang tấc. Cụ hiểu lắm. Con người có những thay đổi bất ngờ, không lường được. Đôi khi do hoàn cảnh xô đẩy, có những phút bất thần, không kiềm chế được như có một lực lượng vô hình, con quỷ trong lòng xui khiến mà bản thân không biết, không tránh được. Cụ chợt nhớ lại chuyện xảy ra với con dâu. Tuy thời gian qua lâu, mỗi lần nhớ đến, cụ lạnh sống lưng, chân tay bủn rủn, đờ đẫn, chết lặng. Thật hú vía!
       

         Bà Hiền là con người bạn chiến đấu của cụ Quý. Hai người hứa hẹn gả con cho nhau từ ngày hoạt động bí mật. Trong lần đánh bốt Phương Trù, người bạn hy sinh trên tay cụ. Trong phút lâm chung có nhắc lại lời hứavà nhờ cụ chăm sóc vợ con. Cụ ghi lòng tạc dạ. Khi ông Phú, bà Hiền đến tuổi, cụ nhờ mai mối tác thành cho họ. Nhưng gần chục năm, sau ngày hòa bình, ông Phú đã hai mươi lăm tuổi. Ông Phú không nói làm gì, còn bà Hiền đã cứng tuổi. Bao nhiêu năm, con trai đi chiến đấu, cụ rất lo lắng! Bà Hiền đẹp nổi tiếng trong vùng, da trắng nõn, môi hồng, dáng như người mẫu, tròn lẳn, đầy đặn, mặn mà. Khắp xa gần không biết bao đám đánh tiếng mai mối. Bọn hào lý ra sức đe dọa, chèn ép, dụ dỗ,có tên muốn bà làm lẽ, không được lại bày đặt hỏi cho con. Cũng may bà có hai bà mẹ thuộc hàng đáo để, đanh đá, lại vợ góa con côi, không quan hệ chơi bời với ai. Bất kể ai mon men đến gần, họ đều lảng tránh. Tối đến, cửa đóng then cài, trong ngoài khóa chặt. Ba mẹ con ôm nhau ngủ; lấy cớ chiến tranh loạn lạc không ra ngoài. Mọi thứ đều tự cung tự cấp. Hai bà không cho con gái giao du với ai. Họ luôn rêu rao con gái có nơi có chốn, đã nhận “trầu cau” của người ta. Họ còn nuôi mấy con chó dữ để xua đuổi kẻ lạ, bọn gian tà, trai làng nhòm ngó nhăm nhe, lăm le, “Tường đông ong bướm đi về mặc ai”.
     Cụ Quý tìm cách bảo vệ ngầm. Cụ hoạt động bí mật nên khó ra mặt giúp đỡ.
       Hai bà luôn nhắc nhở dặn dò con gái không phản bội vong linh người cha đã khuất. Trong làng thì thầm đồn đại bà Hiền không phải con của bố bà. Ông cụ không có con, lấy bà vợ đầu được một thời gian người làng thấy bà ta bỏ đi mất tích. Ông lại lấy hai chị em một gia đình nghèo khó đã nhỡ thì. Mãi không thấy ai sinh nở. Rồi một bà có mang. Người ta đồn cái thai của một ông Trương tuần. Sự thể ra sao không ai biết. Người ta nói với nhau con Trời con Phật. Có người nói ông cụ không có “chim” nên bà vợ đầu chán bỏ đi. Thiên hạ thối mồm. Bố chết lúc bà Hiền hơn mười tuổi, rất xinh đẹp, duyên dáng và hiền thục, nụ cười tươi như hoa. Cô Hòa thừa hưởng gen mẹ, giống bà như đúc nhưng tính chua ngoa đanh đá, không hiền thục như bà. Có cậu thanh niên trêu ghẹo, cô mắc võng trước cổng nhà cậu chửi như hát mấy tiếng đồng hồ. Bố mẹ cậu bé phải van lạy, nhờ bà Hiền khuyên, cô mới chịu về. Từ đó không ai dám động tổ kiến. Ai cũng biết gia đình cô có vai vế, danh giá trong làng. Gia đình cách mạng “gạo cội” ai dám động.
     Tuy gia đình bà Hiền giữ gìn, nhưng cụ Quý vẫn lo, không biết con cụ đi chiến đấu có bình yên trở về, bắt con người ta chờ đợi đến bao giờ. Con gái ngoài hai mươi, hơ hớ như thế “khôn ba năm dại một giờ”. Tuổi ấy thời bấy giờ đã con bồng con mang. Lại nữa, nhỡ con mình không trở về, lỡ một đời con người ta. Hay què quặt, mù lòa sao xứng với cô. Cụ Quý không yên tâm. Đi đâu, làm gì cụ cũng để ý, nghe ngóng về gia đình bà Hiền. Có lúc cụ đã khuyên cô lấy chồng, nhưng lại tiếc. Xót thương con mình, nếu trở về thấy cô Hiền yên bề gia thất, có chịu nổi không? Vì khi chưa đi chiến đấu, hai đứa đã gắn bó thề thốt. Cụ tiếc người con dâu xinh đẹp, hiền thục. Dù cụ có nghe lời đồn đại “con hoang” nhưng cụ cho là thiên hạ ghen ghét, điều tiếng. Không được ăn đạp đổ, thói đời là vậy. Dù gia đình cụ nổi tiếng gia giáo, nề nếp từ mấy đời. Các cụ dựng vợ, gả chồng cho con cháu đều phải “môn đăng hộ đối”. Cụ lúc nào cũng day dứt, dày vò thở dài.Thôi kệ số trời, là định mệnh không thay đổi được. Do hoàn cảnh loạn lạc, cụ không tổ chức hôn lễ cho con cụ đi xa. Cụ chỉ sửa cái lễ “chạm ngõ” và đặt vấn đề cho hai đứa đi lại tìm hiểu. Con cụ lúc nào cũng tìm được đám tốt, danh giá, giàu sang nhưng cụ không thể. Cụ không thể phản bội người bạn, người đồng chí vào sinh ra tử, chơi với nhau từ thuở chăn trâu cắt cỏ. Lẽ nào vì quyền lợi của mình phụ người ta. Cụ lo làm lỡ nhà người ta. Nếu chẳng may con cụ. Con người ta thành góa bụa, hoặc gánh nặng cho họ. Cụ không đành, nhất là khi chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra ác liệt. Đã có người làng hy sinh báo tử về. Một anh uống nhầm lọ axit vì khát quá mà chết, cụ thương xót vô cùng. Lúc nào cụ cũng để ý tin chiến sự. Hơn ai hết, cụ mong ngày thắng lợi, con cụ trở về.
        Thật may, ơn nhờ Trời Phật, ông Phú bình yên lành lặn trở về trong hào quang chiến thắng. Gia đình cụ vui chung niềm vui của dân tộc, đất nước. Ngày đó, bộ đội Điện Biên quý như vàng. Rất nhiều cô thôn nữ mơ ước. Cô Hiền hạnh phúc, sung sướng niềm vui vỡ òa. Cụ Quý lập tức cho đôi trẻ thành hôn. Cụ quý bà Hiền như con gái. Cụ dìu dắt con dâu công tác. Hai cha con cùng sinh hoạt trong chi bộ rất thân mật, vui vẻ nên có một chuyện xảy ra làm cụ đau lòng, còn để tiếng cho con cháu.

                                                                                               * ** *

      Ông Phú nghe con trai nói, chết lặng, đầu gục xuống. Nó nói có phần đúng. Ngẫm lại cuộc đời ông toàn làm công tác tuyên truyền. Thời chống Pháp ông là chính trị viên Đại đội, chả làm công tác tuyên truyền là gì? Hằng ngày tuyên truyền cho chiến sỹ về chủ trương chính sách của Đảng trong cuộc kháng chiến. Trước khi ngủ tuyên truyền, sáng tỉnh dậy lại tuyên truyền. Ăn cơm tuyên truyền. Trước trận đánh tuyên truyền. Sau trận đánh vẫn tuyên truyền. Ông làm lãnh đạo nhưng chả lãnh đạo gì, lúc nào cũng thuyết giáo. Lâu dần căn bệnh “giáo điều” thấm sâu vào máu thịt…
        Khi xuất ngũ đi học, tuyên truyền trong học sinh, sinh viên,ra trường về công tác Ủy ban khoa học Nhà nước, tuyên truyền đường lối khoa học kỹ thuật của Đảng. Xuống các xí nghiệp nhà máy, cơ quan, về các địa phương tuyên truyền đường lối chính sách của Trung ương.

        Các bài nói chuyện giống nhau như đúc. Giáo dục ý thức làm khoa học kỹ thuật cho cán bộ xây dựng chủ nghĩa xã hội,thời chống Mỹ, ông tái ngũ làm Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Trung đoàn. Lại tuyên truyền đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối chống Mỹ của quân đội cách mạng, của mặt trận giải phóng. Ông nói đến mức quen miệng. Cứ ngồi với chiến sỹ là tuyên truyền đường lối chính sách, đường lối quân sự, đường lối tiến hành chiến tranh cách mạng, giải phóng đất nước. Toàn những lời đao to búa lớn, chung chung, chẳng cụ thể. Toàn hô khẩu hiệu: Phát huy tinh thần tiến công cách mạng thừa thắng xông lên, đại loại như thế.
        Sau khi hòa bình, ông về Ban Tuyên giáo Trung ương, lại tuyên truyền đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước; tuyên truyền đường lối tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lê nin vĩ đại; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa vừa hồng vừa chuyên.
       Cả đời ông được sắp đặt làm công tác tuyên truyền. Về nhà với vợ con, gia đình vẫn tuyên truyền đường lối. Mở miệng là tuyên truyền. Ngủ mơ cũng tuyên truyền. Khi tăng cường cho cấp huyện, làm công tác tuyên huấn lại tuyên truyền. Cả đời ông làm công tác lãnh đạo, toàn lãnh đạo công tác tuyên huấn tuyên truyền. Suốt ngày đi rao giảng, thuyết giáo “giáo điều” đến xương tủy. Lúc này về hưu, ngẫm lại mới thấy ông làm lãnh đạo nhưng chả lãnh đạo cái gì, lãnh đạo ai bao giờ mà chỉ tuyên truyền là chính. Có khi chết, ông lại làm ma tuyên truyền? Cán bộ tuyên truyền, xách cặp to, căng phồng toàn tài liệu, văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, đi đứng oai vệ, nói năng sang sảng, mặt mũi phừng phừng, khoa chân múa tay trước đám đông ngưỡng mộ, thán phục. Chả biết họ có hiểu gì, có lãnh hội được điều gì. Giờ đây ông Phú tuyên truyền vận động vợ con thay đổi sửa sang vườn tược, nhà cửa, làm ăn kinh tế, nâng cao đời sống cho gia đình. Bị cậu Nghĩa dội gáo nước lạnh vào đầu, làm ông tê tái, thần kinh tê liệt, ngồi thẫn thờ, vò đầu bứt tai.

         Cụ Quý chết lặng, lo lắng tương lai con cháu rồi ra sao. Các cháu không nghe ông nữa, chúng thoát khỏi sự kiềm chế của cụ, sự giáo dục của cụ, coi cụ lạc hậu, cổ hủ, không cần nữa rồi!
       Con trai cụ cả đời đi đánh giặc, công tác ngoài xã hội. Chính cụ là người nuôi dạy các cháu khôn lớn. Tiếng nói của cụ có trọng lượng trong gia đình. Các cháu răm rắp nghe ông, không cãi lại bao giờ. Cụ hiểu từng đứa hơn cha chúng. Biết con không ai bằng cha nhưng cụ biết hơn cha chúng. Chính cụ là người cha tinh thần của chúng. Cụ biết thằng Thương là người kín đáo, chín chắn, kín tiếng đến mức “ngậm miệng ăn tiền”.       Thằng Nhân thì rụt rè, hiền lành, tuệch toạc, đứng đắn. Thằng Nghĩa khôn ngoan lanh lợi, láu cá, bạo miệng, nói năng bạt mạng, hay thay đổi, không làm việc đến nơi đến chốn, hay chạy theo lợi ích cá nhân. Thằng Dũng chịu khó tỉ mỉ, nói năng khúc chiết, năng động tháo vát, có chí tiến thủ, định làm việc gì làm bằng được, rất có triển vọng, chắc sẽ thành đạt, hơn người. Nó xa nhà đã mười năm, không biết giờ thế nào, tính tình có thay đổi? Dũng chỉn chu, tiết kiệm. Nghe nói đã tích lũy kha khá bên trời Tây, liệu có về nước hay định cư bên đó. Cụ rất nhớ đứa cháu trai út này. Lúc nhỏ toàn ngủ với ông, có đêm gác chân lên cổ làm ông nghẹt thở. Còn tè ra người ông. Đi họp hành trên xã ông hay mang theo. Nó ngồi nghe rất chăm chú, hỏi nhiều câu khó trả lời: “Tại sao bố cháu lại đánh nhau với Mỹ?”.
    Dũng sinh năm Mậu Thân, miền Nam đánh nhau rất ác liệt. Sau mùa xuân có nhiều tin đồn bố nó hy sinh ở Sài Gòn nên cụ rất thương đứa cháu có thể không biết mặt cha. Hôm đó Đảng ủy đang họp, mẹ nó trở dạ, cụ bố trí người đưa vào bệnh viện huyện, đến gần sáng thì sinh, đúng vào giờ Dần. Người ta nói tuổi Thân sinh giờ Dần sướng hơn vua. Chả biết có được thế không? Cụ rất thương cháu. Lúc bấy giờ cụ là Bí thư Đảng ủy xã nó được nhiều người yêu quý, được chiều chuộng. Bảy tuổi mới gặp cha lần đầu từ miền Nam ra. Lúc còn nhỏ lúc nào cũng hỏi ông nội, bố cháu thế nào? Có phải dũng sỹ diệt Mỹ? Do được ông nội mang đi họp tiếp xúc nhiều người. Thằng bé dạn dĩ, không rụt rè như những đứa trẻ khác. Lại khôi ngô tuấn tú nên các cô các chú thường tranh nhau bế, hôn hít, mua quà bánh cho. Nó rất tinh khôn, có lần nó hỏi: “Có phải nhiều người sợ ông nên hay nịnh cháu, hay mua quà cho cháu?” Ông lườm nó, không phải thế, người ta quý cháu. Nó lại hỏi: “Sao những bạn khác không được mọi người quý?”
    Nó chỉ biết bố qua ảnh, thế mà thấy người khoác ba lô vào cổng, nó nhận ra bố ngay, ôm chầm lấy bố.Đã gần mười năm Dũng chưa về thăm ông và gia đình. Nó mải làm ăn, buôn bán, thỉnh thoảng mới gọi điện về. Ấy là mãi gần đây nhà mới lắp điện thoại, trước kia chỉ liên lạc qua thư từ. Hàng tháng thư mới tới. Có việc khẩn cấp gọi qua bưu điện xã, phải nhờ người gọi ra nghe rất phiền phức. Được cái họ nể gia đình cụ là gia đình có công với nước. Thỉnh thoảng nhờ, cụ nhắc con cháu cho họ chút quà. Giờ có điện thoại, nhưng hàng tháng nó mới gọi điện về, nói ngắn gọn, chắc tiết kiệm vì gọi đường dài ra nước ngoài tốn kém.  (CÒN NỮA)


Người đăng tin: Lê Văn Thọ

Tác giả bài viết: LÊ VĂN THỌ - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước