SỰ TÍCH VỀ ĐIỆU NHẢY TẮC XÌNH TRONG LỄ HỘI CẦU MÙA ĐẦU NĂM CỦA NGUỚI SÁN CHAY Ở PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN [Phong tục]

Thứ sáu - 01/07/2016 04:20

SỰ TÍCH VỀ ĐIỆU NHẢY TẮC XÌNH TRONG LỄ HỘI CẦU MÙA ĐẦU NĂM CỦA NGUỚI SÁN CHAY Ở PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN


 


 


(Học sinh trường THCS xã Phú Đô chuẩn bị nhảy Tắc Xình: tác giả chụp)


          Từ bao đời nay cứ mỗi độ tết đến xuân về, bà con Sán Chay ở Phú Lương , Thái Nguyên lại sắm sửa chuẩn bị cho nghi thức Cầu Mùa với rất nhiều hoạt động diễn ra ở phần lễ và phần hội. Trong đó độc đảo nhất phải kể đến vũ điệu Tắc Xình của bà con nơi đây.


          Sinh sống ở một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cư dân Sán Chay tập trung nhiều nhất ở bốn xã của Phú Lương, đó là: Phú Đô, Yên Lạc, Tức Tranh, Vô Tranh. Định cư từ lâu đời nên bà con nơi đây đã kế thừa và bồi đắp cho mình những giá trị văn hóa truyền thống hết sức đặc sắc còn lưu giữ cho đến ngày hôm nay. Nông nghiệp lúa nước chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của người Sán Chay vì vậy họ luôn tìm mọi cách để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Họ quan niệm rằng các lực lượng siêu nhiên, Ngọc Hoàng, Thần Nông, Thổ Địa,… là những vị thần bảo hộ, che chở và phù hộ cho cuộc sống cũng như mùa màng của họ,vì vậy đồng bào nơi đây đã hình nên các nghi thức Cầu Mùa, sau này trở thành ngày hội lớn của dân tộc với nét độc đáo là diệu nhảy Tắc Xình. Đây vừa thể hiện sự kính trọng đối với thế giới tự nhiên, các vị thần thánh vừa là ngày hội lớn của dân tộc Sán Chay ở Phú Lương nói riêng.


          Theo người Sán Chay điệu múa Tắc Xình gắn liền với sự tích Tắc Xình, đó là một câu chuyện dài và đầy sức hấp dẫn.


          Ngày xửa ngày xưa, người Sán Chay vốn sống ở Trung Quốc. Họ quen sống du canh du cư mà chủ yếu là ở vùng núi hiểm trở. Vì vậy mỗi lần đến sống ở những nơi mới, họ lại phải phát nương làm rẫy, lập làng. Một lần họ đến sống tại vùng mà bên này là nơi sinh sống của người dân còn bên kia là con nương, là rẫy, ở giữa có một dòng sông chảy xiết, mỗi lần qua sông người dân đều vất vả. Hơn nữa ở phía nương rẫy kia có một mụ phù thủy độc ác, chuyên hút máu người. Dân làng mỗi lần đi làm nương đều phải khiếp sợ , không dám đi một mình mà phải đi nhiều người. Ở một gia đình nọ có hai vợ chồng và hai đứa con. Ngày ngày, cả hai vợ chồng đều dậy sớm nắm cơm và đi phát nương làm rẫy chập tối mới trở về nhà. Một hôm nọ cả hai vợ chồng đều dậy sớm và đi làm như mọi ngày, nhưng đến sẩm tối không thấy người chồng dục về, người vợ liền lên tiếng gọi : “Về thôi mình ơi! Tối rồi ”. Tiếng gọi cứ văng vẳng vào núi rừng, vách núi và rồi lại vọng về phía người vợ mà không thấy chồng thưa. Gọi mãi gọi mãi không thấy chồng, người vợ đành lủi thủi ra về. Đến nhà hai con không thấy bố đâu liền cất tiếng hỏi mẹ : “Mẹ ơi,bố của chúng con đâu ạ?”. Người mẹ không muốn các con lo lắng bèn nói : “ Bố bận bố sẽ về sau ”. Bữa cơm tối đã xong mà chưa thấy bố về, hai con vừa khóc vừa hỏi mẹ. Nhưng người mẹ chỉ lảng đi rồi dỗ cho hai đứa con ngủ. Thế nhưng trong sâu thẳm tâm can của người phụ nữ ấy, thì nóng như lửa đốt, dường như nàng linh cảm điều gì đó không tốt đối với chồng mình. Suốt đêm ấy nàng không tài nào ngủ được. Hết khóc lóc nàng lại đi đi lại lại, chỉ cầu mong cho chồng mình tai qua nạn khỏi và trời mau sáng. Gà gáy trời tờ mờ sáng, người mẹ đã vội đi nấu cơm cho hai con và nắm một nắm cơm đem theo. Khi đến nương, nàng đặt vội nắm cơm xuống rồi đi tìm chồng. Nàng vừa gọi vừa khóc tìm. Tìm mãi mà chẳng thấy chồng đâu. Tiếng gào thết cứ vang xa đạp vào vách đá rồi vọng lại phía người vợ mà không thấy người chồng lên tiếng. Nàng cứ đi, đi mãi vào tận cánh rừng sâu, phần thì mệt và khát nước, nên sau khi uống nước xong nàng thiếp đi dưới gốc cây lớn và không biết gì nữa. Thừa cơ hội, mụ phù thủy xuất hiện bắt nàng ăn thịt.


           Tối đến hai đứa con tội nghiệp không thấy cha mẹ về kêu khóc thảm thiết gọi. Ngoài trời cơn mưa từ đâu trút xuống, gió to sấm sét ầm ầm, trời tối đen như mực, không biết chuyện gì đã xảy ra với hai đứa trẻ. Trên cao các thần tiên nghe thấy tiếng khóc thảm thiết gọi bố mẹ của hai đứa trẻ con liền hỏi Thổ Thần và vén mây xuống xem. Qua lời kể của Thổ Thần, trời cao biết được rằng hai đứa trẻ con khóc vì nhớ bố mẹ đi làm nương không thấy về, bố mẹ chúng đều bị mụ phù thủy ăn thịt. Chính vì vậy thần tiên đã báo mộng cho hai đứa trẻ tội nghiệp đẻ chừng phạt mụ phù thủy độc ác: “ Các con nhớ lời tiên dặn, sớm mai tỉnh giấc hai con ra bờ sông gọi bố mẹ cho đến khi nào mụ phù thủy nghe thấy và ra bờ sông gọi các con, thì khi đó các con đừng sợ vì đã có thần tiên giúp đỡ. Tiên sẽ thả hai sợi chỉ vàng từ trên cao xuống, hai con mỗi đứa một sợi đặt vào tai nghe lời tiên hướng dẫn và làm theo”. Sáng sớm mai khi tỉnh giấc người anh bảo người em làm theo đúng lời tiên dặn. Hai anh em dắt nhau ra bờ sông, trời trong xanh mát rượi, nhưng nước sông vẫn cứ cuồn cuộn chảy xiết. Hai đứa làm đúng như  lời tiên dặn, hai sợi chỉ vàng đã được thả xuống từ bao giờ. Cứ như vậy lũ trẻ kêu la thảm thiết gọi bố mẹ, vừa lúc đó mụ phù thủy xuất hiện và lên tiếng: “ Này hai đứa trẻ kia, đi tìm bố mẹ phải không?”. Hai đứa đồng thanh đáp: “ Dạ vâng ạ! Bố mẹ chúng cháu đi làm nương từ hôm qua không thấy về, bà có thấy không ạ, tìm giúp chúng cháu với” .


        -Có nhưng họ ở xa lắm các cháu cứ sang đây đi – Mụ phù thủy đáp.


         Lúc này thần tiên bảo hai đứa đáp: “ chúng cháu còn nhỏ không sáng được sông, bà sang đón chúng cháu nhé.”              Mụ phù thủy thấy nước sông chảy xiết thấy sợ cũng đáp:


        -Bà cũng không sang được.


        Thần tiên lại mách hai đứa: “ Bà ơi bà, nhà bà có chum không ạ”?


        -Có cháu.


        - Con có nghe thấy bố mẹ bảo, nước sông sâu chảy xiết, thì đem chum ra bờ sông niệm thần trú “ chum ơi hãy đưa ta sang sông cứu người” thì bà sẽ sang được.


        Vì thèm thịt hai đứa trẻ, mụ ta liền làm theo, khi đó thần tiên trên cao làm phép cho bà ngồi vào chum, đi ra giữa sông rồi thu phép lại, chiếc chum nhấn chìm mụ phù thủy dưới lòng sông sâu.


        Thần tiên báo cho hai đứa trẻ rằng: “ mụ phủ thủy đã chết, không còn gây hại nữa các con hãy về báo lại cho dân làng biết để ăn mừng”. Nói xong thần tiên thu lại hai sợi chỉ vàng và trở về trời.


        Hai đứa trẻ về báo cho dân làng tin vui, họ liền kéo nhau ra bờ sông, lúc đó dòng sông chuyển sang màu đỏ rực như màu máu. Biết chắc mụ phù thủy đã chết không ai bảo ai, mọi người cầm được vật gì như: gậy, ống tre,.. cứ thế gõ vào nhau và nhảy múa hô to: “ Tắc xình xình sán xúi lầu me cú sui slạy cồng kềnh” thâu đêm suốt sáng. Cũng từ đó mỗi dịp vào mùa xuân họ lại tiến hành lễ hội Cầu Mùa, trong đó Tắc Xình là phần rất quan trọng, một phần để cầu cho mùa màng bội thu, phần để cảm ơn trời đất đã phù hộ để cho dân bản được ấm  no an lành. Đó cũng là ngày hội lớn của đồng bào Sán Chay ở Phú Lương, Thái Nguyên.


         Người ta gọi đó là điệu múa Tắc Xình  vì nó có 8 âm liên tiếp nhưng chỉ có 2 âm “ Tắc” và “ Xình” hợp lại. Tắc là âm phát ra bởi tiếng gõ của thanh tre trên thân ống tre. Âm “ Xình” phát ra do động tác nện ống tre xuống đất. Các âm “ tắc’ và “ xình” phát ra liên tiếp 8 lần theo một trật tự nhất định để kết thành một khúc có giai điệu rất riêng không thể lẫn vào đâu được. Ở đây người ta lấy hai âm cuối một khúc “ Tắc Xình” để gọi tên cho giai điệu. Kể từ đó , dù họ đi đến đâu, làm gì họ cũng mang theo điệu nhảy ấy.


 


(Xã Phú Đô tổ chức lễ Cầu Mùa với điệu nhảy Tắc Xình năm 2000: tác giả chụp từ ảnh trong nhà văn hóa xã Phú ĐôWink


 


         Người ta gọi đó là điệu múa Tắc Xình  vì nó có 8 âm liên tiếp nhưng chỉ có 2 âm “ Tắc” và “ Xình” hợp lại. Tắc là âm phát ra bởi tiếng gõ của thanh tre trên thân ống tre. Âm “ Xình” phát ra do động tác nện ống tre xuống đất. Các âm “ tắc’ và “ xình” phát ra liên tiếp 8 lần theo một trật tự nhất định để kết thành một khúc có giai điệu rất riêng không thể lẫn vào đâu được. Ở đây người ta lấy hai âm cuối một khúc “ Tắc Xình” để gọi tên cho giai điệu. Kể từ đó , dù họ đi đến đâu, làm gì họ cũng mang theo điệu nhảy ấy.


 


 


( Ông Trần Văn Thành, xã Phú Đô còn lưu giữ sách dạy Tắc Xình: tác giả chụp )


        Sau này khi tiến hành lễ hội Cầu Mùa, người Sán Chay đã coi Tắc Xình là một phần quan trọng không thể thiếu trong lễ. Không chỉ vậy, đó còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc quy tụ nhiều giá trị truyền thống của dân tộc Sán Chay ở Phú Lương, Thái Nguyên. Đó là giá trị thẩm mĩ với những đường nét, hoa văn trang trí trên trang phục thể hiện một đời sống tâm linh phong phú. Đó là giá trị quy tụ, gắn kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng. Điệu nhảy này vừa là sự gắn kết tâm linh giữa cõi dương với cõi âm, giữa hiện tại và qúa khứ, giữa thế hệ trước với thế hệ sau, vừa là sự gắn kết giữa các cộng đồng với nhau. Thông qua lễ hội Cầu Mùa và điệu nhảy Tắc Xình, các dân tộc sẽ có cơ hội giao lưu học hỏi văn hóa của nhau. Từ đó củng cố niềm tin vào tương lai cho các cộng đồng người. Không chỉ vậy, vũ điệu rừng xanh của dân tộc thiểu số này còn mang giá trị văn hóa sâu sắc. Nó đã trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong đời sống của họ, là dịp để mọi người nghỉ ngơi, thư giãn sau những khoảng thời gian làm việc căng thẳng mệt mỏi. Đồng thời cũng qua đó nhắc nhở, răn dạy con cháu phải biết ơn và tôn kính tổ tiên, các vị thánh hiền, tiên nhân có công khai phá, xây dựng và bảo vệ bản làng quê hương.


 


 


(Tập nhảy Tắc Xình ở xã Tức Tranh: Nguồn internet)

Người đăng tin: Trần Thu Hồng

Tác giả bài viết: Trần Thu Hồng


 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Những tin cũ hơn

Đăng tin miễn phí tại Lienketviet.net
Đăng tin miễn phí tại lienketviet.net

Đăng bài viết thơ ca - văn hóa - lễ hội

Đăng tải hình ảnh trực tuyến miễn phí

Tạo chữ thư pháp, ghép ảnh trực tuyến

Đọc nhiều nhất
Trở về trước