Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây

Giới thiệu

DÂN TỘC XƠ ĐĂNG
(Cinet-DTV) - Là một cư dân nông nghiệp, chủ yếu trồng trọt, người Xơ Đăng, người Xơ Đăng cư trú

so dang
tập trung tại tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai...
Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu
Tên gọi khác: Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.
Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mơ nâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
Dân số: Người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người (1).
Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Địa bàn cư trú: Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai.. …
Tết: Người Xơ Đăng có hai tết chính là tết Giọt nước và tết Lửa. Tết Giọt nước vào khoảng tháng 3 dương lịch. Sau khi mãn mùa, người Xơ Đăng bắt đầu sửa sang lại các máng nước và tổ chức lễ "cúng máng" để cầu mong Thần nước (Yang Dak) ban cho dân làng năm mới được mùa, nước non đầy đủ.
Lịch sử: Cho đến nay chưa có tư liệu nào trình bày rõ về những cuộc chuyển cư của các nhóm thuộc dân tộc Xơ Đăng. Có thể do những xung đột nội bộ của các cư dân Môn – Khơ Me, những cuộc xung đột với người Chăm, người Lào, người Xiêm và sự tràn lấn của các nhóm Môn – Khơ Me, như Cơ tu, Bru, Ta ôi… từ Lào sang nên người Xơ Đăng đã di chuyển tới sinh sống tại một số địa điểm ở miền Bắc Tây Nguyên hiện nay. (2)
Văn hóa: Là một cư dân nông nghiệp, chủ yếu trồng trọt, người Xơ Đăng phụ thuộc nhiều vào các lễ thức tôn giáo để cầu mong các siêu linh phù hộ, che chở, cho cuộc sống được yên lành, mùa màng tươi tốt. Trong số các lễ cúng, lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất. Về văn hóa, văn nghệ người Xơ Đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông Xơ Đăng không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.
Hoạt động sản xuất: Bên cạnh rẫy và ruộng, người dân Xơ Đăng đều canh tác thêm vườn. Ngoài các công việc trồng trọt, săn bắn người dân Xơ Đăng còn làm các công việc như: đan lát mây tre, dệt vải, làm gốm… Đáng lưu ý hơn cả là nghề rèn, lò rèn của người Xơ Đăng thuộc kiểu lò lộ thiên được đắp bằng một loại đất cao lanh chịu lửa, lấy tại các sườn núi ở địa phương. Việc rèn từ quặng cục và quặng cát thành thép thỏi phải mất khoảng một tiếng đồng hồ với công cụ hết sức đơn giản là đe, búa (xưa bằng đá) và kìm. Do hậu quả của 30 năm chiến tranh nên những nghề sản xuất truyền thống của dân tộc Xơ Đăng đang dần bị mai một.
Chú giải:
 (1): Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
(2): Nguồn Gốc Giang Nam của Ðào Duy Anh.
Tài liệu tham khảo nghiên cứu về dân tộc Xơ Đăng của tác giả Đặng Nghiêm Vạn
 

Dân tộc Xơ Đăng

Giới thiệu

Là một cư dân nông nghiệp, chủ yếu trồng trọt, người Xơ Đăng, người Xơ Đăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai...Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ...