Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây

Giới thiệu

DÂN TỘC CƠ TU
Tên tự gọi: Cơ Tu
Tên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tang

Dân tộc Cơ Tu

Nhóm địa phương:
Dân số: Người Cơ Tu ở Việt Nam có dân số 61.588 người (1).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru - Vân Kiều. Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ La-tinh để phiên âm, nhưng nay ít người sử dụng.
Địa bàn cư trú: Người Cơ Tu cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn thuộc địa phận các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế; phần nhỏ ở Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.
Tết: Tết là dịp bà con Cơ Tu tổ chức ăn uống và đón tiếp khách vui vẻ. Lễ tết được tổ chức theo làng vào khoảng tháng giêng và tháng hai dương lịch, sau mùa tuốt lúa, trước hết có các nghi lễ cúng quải tại nhà và nhà công cộng. Lớn hơn cả là lễ đâm trâu (của làng cũng như của từng nhà), lễ "dồn mồ"… Hiện nay, nhiều nơi đã tổ chức Tết vào dịp tết Nguyên Đán.
Lịch sử: Người Cơ Tu cư trú lâu đời ở ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Họ định cư và hình thành làng bản phân bố đông đảo ở miền núi tây bắc tỉnh Quảng Nam và tây nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây cũng là những địa phận giáp ranh, liền kề với địa bàn phân bố tộc Cơ Tu bên nước bạn Lào.
Văn hóa: Người Cơ Tu có các loại nhạc cụ truyền thống như: đàn hai dây (Ân rưl), sáo dọc (Toát), sáo ngắn (Ahen), sáo (A luốt), tù và (T’Gê), đàn Abel (Abel), đàn bầu (Tâm Bréh), các loại trống như trống nhỏ (Ch’Gâr), trống trung (Pâr lư), bộ cồng chiêng... Nhạc cụ thường thấy nhất là bộ chiêng 3 chiếc, cồng 1 chiếc, trống, sáo, đàn, nhị gắn liến với các hoạt động lễ hội, văn hoá, tâm linh của đồng bào Cơ Tu. Trong lễ hội, họ thường trình diễn các điệu múa tập thể: nữ múa Dạ dạ, nam múa Ting tung. Người Cơ-tu rất nổi tiếng với các điệu múa phản ánh tinh thần thượng võ của dân tộc. Họ còn có nhiều truyện cổ kể về sự tích, về xã hội con người, về sự phát sinh các dòng họ... và những điệu hát riêng của dân tộc mình.
Phụ nữ Cơ Tu giỏi giang và khéo léo trong việc dệt các đồ án hoa văn bằng sợi màu trang trí với các hoạ tiết hình học phân bố và kết hợp tinh tế chì và cườm trên vải. Nam giới tài nghệ trong điêu khắc trang trí nhà mồ, nhà công cộng, cổng làng, cây cột buộc trâu tế… với những hình đầu trâu, chim, rắn, thú rừng, gà... và các bức vẽ, chạm khắc độc đáo.
 Hoạt động sản xuất: Cây lương thực chủ yếu trong hoạt động sản xuất của đồng bào Cơ Tu là: lúa, ngô, sắn. Người Cơ Tu phát rừng làm rẫy là chính, canh tác theo lối phát cây bằng rìu và dao quắm rồi đốt, sau đó dùng gậy chọc lỗ để tra hạt giống. Họ làm cỏ bằng cái nạo có lưỡi sắt uốn cong và tuốt lúa bằng tay. Rẫy đa canh, xen canh và cứ sau vài vụ lại bỏ hoá một thời gian dài trước khi canh tác tiếp. Mỗi năm chỉ gieo trồng một vụ vào khoảng tháng 3-4 và gặt vào tháng 10-11. Các hoạt động kinh tế khác gồm có: chăn nuôi (trâu, gà, lợn, chó), dệt, đan lát, hái lượm, đánh cá, săn bắn… Nguồn thực phẩm hàng ngày chủ yếu vẫn do hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đưa lại. Nghề thủ công chỉ có dệt vải với kĩ thuật dệt hoa văn bằng hạt chì, hạt cườm và làm gốm (đồ đất nung) ở một số nơi phía giáp biên giới Việt - Lào; riêng đan lát phát triển rộng khắp. Trao đổi hàng hoá vẫn thông dụng hình thức vật đổi vật.
Chú giải:
 (1): Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
 

Dân tộc Cơ Tu

Giới thiệu

Người Cơ Tu cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn thuộc địa phận các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế; phần nhỏ ở Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí MinhTên tự gọi: Cơ TuTên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tangDân số: Người Cơ Tu ở Việt Nam có dân số...