Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây

Giới thiệu

DÂN TỘC CƠ LAO
(Cinet -DTV) - Người Cơ Lao cư trú tập trung chủ yếu tại tỉnh Hà Giang, ngoài ra còn có ở Tuyên Quang, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Họ sống thành từng làng khoảng 15 - 20 nóc nhà ở vùng núi đất huyện Hoàng Su Phì hoặc núi đá tai mèo ở huyện Ðồng Văn của tỉnh Hà

Dân tộc Cơ Lao
Giang.
Tên tự gọi: Cơ Lao hoặc Cờ Lao
Tên gọi khác: Ke Lao, Klau, Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề
Nhóm địa phương: Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ
Dân số: Người Cơ Lao ở Việt Nam có dân số ít ỏi là 2.636 người (1)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Kadai (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, La Chí, Pu Péo. Nhiều người biết chữ Hán và sử dụng nó trong việc cúng lễ. Trước đây, các nhóm địa phương có phương ngữ khác nhau nhưng hiện nay đa số người Cơ Lao Ðỏ, Cơ Lao Xanh không còn nói được tiếng mẹ đẻ của mình nữa. Trong quá trình tiếp xúc, cộng cư họ đã quen sử dụng tiếng Quan hoả, tiếng Nùng hay tiếng Pu Péo, Hmông làm tiếng nói của mình. Ngày nay cũng như các dân tộc khác trong cả nước, học sinh được học tiếng Việt và chữ phổ thông.
Địa bàn cư trú: Đây là dân tộc rất ít người tại Việt Nam nhưng lại có mặt tại tới 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố của cả nước. Người Cơ Lao cư trú tập trung chủ yếu tại tỉnh Hà Giang (huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì), ngoài ra còn có ở Tuyên Quang, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Họ sống thành từng làng khoảng 15 - 20 nóc nhà ở vùng núi đất huyện Hoàng Su Phì hoặc núi đá tai mèo ở huyện Ðồng Văn của tỉnh Hà Giang. Nhà ba gian hai trái, mái lợp cỏ gianh hoặc các ống vầu, nứa bổ đôi xếp úp ngửa. Người Cơ Lao cũng là một dân tộc được công nhận chính thức tại Trung Quốc.
Tết: Người Cơ Lao ăn Tết Nguyên Đán, Tết theo âm lịch như: Mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5, 15 tháng 7 và mùng 9 tháng 9 như nhiều dân tộc khác ở vùng Đông Bắc Việt Nam.Trong đó, Tết Nguyên Đán là lớn nhất.
Lịch sử: Người Cơ Lao chuyển cư tới Việt Nam cách đây khoảng 150 - 200 năm.
Văn hóa: Trong kho tàng văn học dân gian của người Cơ Lao có truyện kể dân gian và truyện cổ. Đồng bào Cơ Lao thường thổi sáo và thường hát đối trong các ngày lễ. Kèn Pí Lè là một nhạc cụ độc đáo của người Cơ Lao.
Hoạt động sản xuất: Cây lúa là cây lương thực chủ chốt của đồng bào Cơ Lao. Ở vùng núi đá tai mèo cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), người Cơ Lao làm nương và gieo trồng ngô ở các hốc núi đá (thổ canh hốc đá) với công cụ sản xuất thô sơ như cày, cuốc, nạo cỏ. Còn ở huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) thì họ làm ruộng nước và nương núi đất, trồng lúa là chủ yếu, sử dụng trâu bò làm sức kéo. Trên nương, người Cơ Lao còn trồng nhiều loại cây nông nghiệp khác như: đậu răng ngựa, lúa mạch, đậu Hà lan, su hào... Đồng bào có truyền thống dùng phân chuồng, phân tro và nhiều kinh nghiệm sử dụng phân bón trên nương. Phân tro được bón vào từng hốc khi tra ngô. Bên cạnh đó, người dân còn phát triển nuôi gia súc, gia cầm…
Nghề thủ công truyền thống của người Cơ Lao là đan lát và làm đồ gỗ với các sản phẩm tiêu biểu là: phên, cót, nong, bồ, bàn ghế, hòm, yên ngựa, quan tài, các đồ đựng bằng gỗ…. đáp ứng nhu cầu đời sống và hoạt động sản xuất của đồng bào. Nhiều làng Cơ Lao còn có thợ rèn để sửa chữa các nông cụ sản xuất.
Chú giải:
 (1): Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
 

Dân tộc Cơ Lao

Giới thiệu

Người Cơ Lao cư trú tập trung chủ yếu tại tỉnh Hà Giang, ngoài ra còn có ở Tuyên Quang, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Họ sống thành từng làng khoảng 15 - 20 nóc nhà ở vùng núi đất huyện Hoàng Su Phì hoặc núi đá tai mèo ở huyện Ðồng Văn của tỉnh Hà...