Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây

Giới thiệu

DÂN TỘC CHU RU
(Cinet-DTV) - Các nhà nghiên cứu và các già làng người Chu Ru cho rằng: Họ vốn là một nhóm con cháu của người Chăm, đã từng sinh sống ở vùng duyên hải Trung Bộ nhưng vì lý do lịch sử nào đó, khiến cho một số người phải rời bỏ quê hương để tìm nơi đất mới. Những người di dân ấy đã tự đặt

Dân tộc Chu Ru
cho mình tên gọi Chu Ru.
Tên tự gọi: Chu Ru
Tên gọi khác: Chơ Ru, Kru, Thượng.
Dân số: Cộng đồng người Chu Ru ở Việt Nam có 19.314 người (1).
Ngôn ngữ: Tiếng Chu Ru thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me).
Địa bàn cư trú: Người Chu Ru cư trú tại 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Trong đó, tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh.
Tết: Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch.
Trong các lễ cúng thần của người Chu Ru, đáng chú ý nhất là lễ cúng thần Bơ Mung ( tức thần Đập nước-thần của các vị thần cai quản về nước). Đây là nghi lễ lớn nhất của người Chu Ru, thường được tổ chức vào tháng 2 âm lịch. Lễ cúng thần Đập nước được tổ chức vào thời điểm gieo hạt đã xong, chuẩn bị đưa nước vào ruộng.
Lịch sử: Các nhà nghiên cứu và các già làng người Chu Ru cho rằng: Họ vốn là một nhóm con cháu của người Chăm, đã từng sinh sống ở vùng duyên hải Trung Bộ nhưng vì lý do lịch sử nào đó, khiến cho một số người phải rời bỏ quê hương để tìm nơi đất mới. Những người di dân ấy đã tự đặt cho mình tên gọi Chu Ru.
Văn hóa: Người Chu Ru có một vốn ca dao, tục ngữ phong phú, trong đó nổi bật là những câu ca tụng chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền. Nhiều truyện cổ phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất của người lao động với thiên nhiên và xã hội để dành lấy cuộc sống hạnh phúc. Đồng bào Chu Ru còn lưu truyền một số trường ca mà các già làng thường kể bên bếp lửa sàn cho con cháu nghe, suốt đêm này qua đêm khác...
Kho tàng văn học nghệ thuật dân gian của đồng bào Chu Ru không chỉ có giá trị về mặt văn học nghệ thuật, mà còn là một nguồn tư liệu lịch sử quý giá.
Về nhạc cụ, ngoài trống, kèn (rơkel), đồng la (sar)... còn có r'tông, kwao, tenia, là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong những ngày vui, họ thường tấu nhạc với điệu Tam- ga, một vũ điệu điêu luyện mang tính cộng đồng, hầu như người nào cũng biết và ưa thích.
Hoạt động sản xuất: Người Chu Ru sống định cư, định canh trên cơ sở một truyền thống nông nghiệp từ lâu đời. Ruộng ở đây có hai loại: ruộng sình và ruộng khô. Việc làm thuỷ lợi bằng mương, phai, đê, đập được chú trọng. Vườn có trên rẫy và vườn ở gần nhà. Ngoài trồng trọt, người Chu-ru còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê và nhiều loại gia cầm. Giờ đây đồng bào còn trồng dâu nuôi tằm, đời sống tương đối ổn định. Người Chu-ru còn biết đan lát các đồ dùng gia đình bằng mây tre, tự rèn các công cụ sản xuất như liềm, cuốc, dao... Có các làng nghề nổi tiếng về nghề làm gốm. Săn bắn, hái lượm và đánh cá đem lại nguồn thức ăn đáng kể hàng ngày.
Chú giải:
(1): Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
 

Dân tộc Chu Ru

Giới thiệu

Các nhà nghiên cứu và các già làng người Chu Ru cho rằng: Họ vốn là một nhóm con cháu của người Chăm, đã từng sinh sống ở vùng duyên hải Trung Bộ nhưng vì lý do lịch sử nào đó, khiến cho một số người phải rời bỏ quê hương để tìm nơi đất mới. Những người...