Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây

Giới thiệu

DÂN TỘC CHĂM
(Cinet-DTV)-Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ, ngay từ những thế kỉ thứ

Dân tộc Chăm
XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (năm 2009) (1)
Ngôn ngữ: Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa đảo (Malayo-Polynesian) của hệ ngôn ngữ Nam Đảo (Autronesian).
Địa bàn cư trú: Người Chăm cư trú tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Trong đó, Dân tộc Chăm cư trú tập trung ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Ngoài ra, họ còn có ở các tỉnh An Giang, Bình Định, Đồng Nai, Phú Yên, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh.
Tết: Đối với người Chăm, hai lễ lớn nhất trong năm là Păng-Katê và Păng-Chabư được xem như cái Tết của họ.
Păng-Katê cử hành vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm (tức khoảng tháng 9 - 10 dương lịch). Tết Păng Katê là ngày tế lễ các vua Chăm thuở xa xưa có công dựng nước và hướng dẫn việc nông tang, thuộc về dòng họ người cha, tượng trưng cho khí dương, cho nên phải cử hành vào buổi sáng mai.
Păng-Chabư cử hành vào ngày 16 tháng 9 theo lịch Chăm (tức vào khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch). Tết Păng Chabư là lễ cúng tế các lễ thần Pô Giang nữ, tức các hoàng hậu, công chúa Chăm, thuộc dòng họ mẹ, tượng trưng cho khí âm nên được cử hành vào buổi chiều tối.
Không như người Kinh tập trung đón Tết trong một vài ngày. Tết của người Chăm kéo dài trong cả tháng tùy theo điều kiện của từng gia đình.
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ, ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa.
Văn hóa: Dân tộc Chăm để lại nhiều giá trị kiệt xuất và có giá trị vô cùng to lớn.
Về văn học: Sử thi là kho tàng văn học đáng tự hào của người Chăm. Ngay từ thế kỉ XVII, bằng chữ truyền thống akhar thrah, dân tộc này đã chép trường ca, truyền thuyết, thần thoại, ca dao… hay các bài viết về phong tục, tôn giáo, về giáo huấn. Trong đó, có ba sử thi nổi tiếng. Đó là Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup.
Về kiến trúc: Người Chăm có hàng trăm toà tháp Chàm cổ kính và trở thành di sản văn hóa của nhân loại.
Nền dân ca, nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca, nhạc cổ của người Kinh ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. Đặc biệt, múa hát dân tộc Chăm rất nổi tiếng.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Chú giải:
(1): Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
 

Dân tộc Chăm

Giới thiệu

Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ, ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa.Tên gọi khác:...