{{title}}

{{message}}

Bài viết nổi bật
Hãy đến với Liên kết Việt

bởi - cập nhật lúc: 21:04:46 11/01/2017 - Lượt xem: 392 lượt tin tức nổi bật - hot


Nghe đâu khoa học đèn led ngày nay không thể thiếu trong những loại G Shock hay Baby G của Casio. Nhất là đối sở hữu Các bạn nam, họ đặc biệt mê say vẻ đẹp của mẫu G Shock đèn led mỗi lúc ngọn đèn này được bật lên, 1 sữ thu hút khó cưỡng lại được.


Đồng Hồ G Shock Đèn Led – lúc Vẻ Đẹp Được Thắp Sáng

>>> địa chỉ  mua dong ho casio chính hãng ở đâu

đồng hồ g shock đèn led 1G Shock đèn led và sức lôi cuốn của nó với phái mạnh

 vì sao người ta dùng kỹ thuật đèn led cho các chiếc đồng hồ G Shock mà chẳng hề công nghệ khác?

kỹ thuật Đèn Led

 Bền – không sợ đứt tóc hay đổ vỡ bóng

 Tuổi thọ cao – Tuổi thọ LED đến khoảng 100.000 giờ

 Tiêu thụ điện năng ít – hiệu suất phát sáng của LED cao

 mềm mỏng trong tiêu dùng – LED sở hữu kích thước nhỏ nên dễ ghép thành đèn hay mảng phát sáng theo cấu hình bất kỳ.

 Bức xạ nhiệt thấp – hao phí năng lượng vì bức xạ nhiễu rất bé

— Rõ ràng trong chiếc G Shock đèn led sở hữu ko gian nhỏ hẹp mà chỉ với mẫu đèn led nhỏ gọn sở hữu thể dể dàng ghép vào mà ko sợ dễ đứt tóc hay vỡ bóng, do đồng hồ xài nguồn năng lượng pin nên đèn led ít hao pin với tuổi thọ cao là sự tuyển lựa hàng đầu.

>>> những chiếc dong ho nu casio được ham mê nhất

đồng hồ g shock đèn led 2Đèn led giúp bạn nhìn rõ những chức năng trên mặt đồng hồ trong điều kiện thiếu sáng

 vì sao nên chon đồng hồ G Shock đèn led?

>>> Xem thêm những mẫu dong ho nam casio được ham mê nhất

— Đối có nhiều người và bạn teen những tính năng mà cái đồng hồ G-Shock đèn led tụ họp cho họ là số một: đồng hồ đếm giờ, đồng hồ toàn cầu, 24 giờ và không gì tuyệt hơn lúc trong môi trường điều kiện tối nhờ mang led mà bạn vẫn với thể tiêu dùng

— Vẻ đẹp của các bề ngoài trên mặt đồng hồ G-Shock xịn vốn dĩ đã được thẩm định cao thì ngày nay các cái G Shock đèn led lúc được bật công tắc sự chiếu sáng của đèn led lên, những bề ngoài ngừng thi côngĐây thật sự vượt trội và với sức thu hút khó cưỡng.


Hãy đến với Liên kết Việt

Nếu bạn thấy hay hãy chia sẽ lên Facebook Chia sẽ facebook

1;ng là cả một sự kiên trì, kỳ công. Trâu tham gia hội thi phải được những người dày kinh nghiệm chọn kỹ và chăm nuôi từ cả năm trước. Mua trâu chọi là cuộc săn lùng vất vả, gian nan. Đồ Sơn lưu truyền một bài văn vần mô tả 16 điều tỉ mỉ về đầu, mặt, trán, tai, sừng, hàm, tóc, khoang cổ, ức, các khoáy, khung sườn, mình, chân, đuôi, bụng và những thói quen bộc lộ khí chất bên trong của trâu, tất nhiên là trâu đực. Kiếm được trâu đủ các tiêu chuẩn đã đúc kết là rất khó.


    Luyện trâu khá công phu. Trâu phải tập chạy, lội bùn, leo núi, thích nghi với những biến đổi thời tiết nhằm nâng sức chịu đựng, dẻo dai. Tùy từng trường hợp, có thể vót sừng nhọn hoặc múi khế. Tập cho trâu bạo dạn trước đông người và âm thanh huyên náo, mầu sắc rực rỡ trong hội. Đánh thức khả năng tự vệ và tiến công bằng các động tác "nhử" hoặc "ghé" trâu giữa hai bên cổng sắt. Trong các cuộc chọi, trâu được rút mũi dây ở một khoảng cách nhất định. Chúng lao thẳng vào nhau. Trận đấu dữ dội với nhiều tình huống gay cấn. Có miếng vồ, luồn sừng bẻ, lật ngược đối thủ. Miếng gảy, dùng sừng đánh vào bất kỳ chỗ nào tiếp giáp. Hiểm hóc là miếng quỳ, hai chân trước gập xuống, mài mặt sát đất, day sừng lấy cáng tống hầu và miếng chọc mắt. Những lối đánh này không thể dạy, nó là bản năng và nảy sinh khi trâu vào trận. Khá nhiều đôi trâu đánh quyết liệt, có trận kéo liền 40 phút đồng hồ, có con tuột sừng vẫn đánh hăng và chiến thắng. Sự dũng mãnh, ngoan cường của trâu chọi là biểu tượng gửi gắm ý nguyện và khí phách của người Đồ Sơn giàu tinh thần thượng võ.


    Một nét độc đáo của Hội chọi trâu Đồ Sơn là dù thắng hay thua, sau khi kết thúc lễ hội, các trâu đều được mổ thịt tế lễ trời đất, cầu mùa màng thuận hoà. Người ta cũng tin rằng, nếu được ăn thịt trâu chọi trong dịp lễ hội, sẽ gặp nhiều điều may mắn.


    Sự phục hồi lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là một việc làm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Chấn hưng lễ hội này với những đặc điểm vốn có của nó sẽ góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hàng chục ngàn du khách trong và ngoài nước cứ đến hội lại nô nức đổ về, tạo nên một sản phẩm du lịch văn hoá độc đáo có một không hai trên cả nước.

 

 

 



 

 

', 'images' => 'LỄ HỘI CHỌI TRÂU Ở ĐỒ SƠN - HẢI PHÒNG', ), 5 => array ( 'blog_id' => '1305', 'title' => 'Đờn ca tài tử với du lịch: Nỗi lo tầm thường hóa di sản', 'user_id' => '17', 'text_parsed' => '

Đờn ca tài tử Nam Bộ vừa được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Chớp cơ hội ấy, nhiều hãng lữ hành, công ty du lịch đã đưa đờn ca tài tử vào khai thác trong các tour, tuyến du lịch.



Biểu diễn đờn ca tài tử. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)


Điều này góp phần quảng bá trực tiếp môn nghệ thuật truyền thống đến với du khách song cũng đặt ra nỗi lo về việc bảo vệ di sản nhân loại.


Không thể truyền tải hết chỉ trong 15 phút


Thực tế cho thấy trong giai đoạn đờn ca tài tử ngày càng mai một, việc các nhà hàng, khách sạn, tour du lịch đưa đờn ca tài tử vào chương trình phục vụ du khách là điểm sáng đối với chính bộ môn nghệ thuật này và tạo điều kiện cho các nghệ nhân, câu lạc bộ biểu diễn.


Song cũng có một thực tế là việc đưa nghệ thuật đờn ca tài tử vào phục vụ du lịch đã phát sinh nhiều vấn đề chưa hay, chưa đẹp. Tham gia đoàn khảo sát du lịch tại một số tỉnh, thành trọng điểm, trong đó có Tiền Giang, nhiều phóng viên cảm thấy chạnh lòng về việc đờn ca tài tử được đem ra phục vụ du khách ở nơi tạm nghỉ chân.


Với lịch trình chật kín, để được thưởng thức đờn ca tài tử, đoàn nhà báo quốc tế đã chọn cách bỏ bớt một số điểm đến thú vị khác. Tới được Cồn Thới Sơn (thành phố Mỹ Tho), mọi háo hức, mong chờ dường như bị sự mệt mỏi của chặng đường dài, không khí nóng bức cùng thời gian gấp gáp đánh tan.


Trong khi các ca nương, tài tử đang trau chuốt, nắn nót từng nốt nhạc, lời ca thì ở dưới một số người tìm võng nằm ngủ hoặc gục xuống bàn, một số khác lịch sự hơn hướng ánh mắt lên khu vực biểu diễn song cũng không quên tham gia những câu chuyện rôm rả xung quanh. Buổi biểu diễn nhanh chóng trôi qua, đoàn du khách lại khẩn trương tiếp tục cuộc hành trình. Ít người cảm thấy tiếc nuối khi vừa bỏ qua một di sản tinh thần vừa được thế giới ghi nhận.


Chị Nikulina Elena (Đài tiếng nói nước Nga) cho hay với 15 phút, người biểu diễn chưa thể truyền tải hết cái hồn, cốt của nghệ thuật đờn ca tài tử; người nghe dù chăm chú đến mấy cũng chưa thể nắm bắt được cái đẹp, sâu lắng trong dòng nhạc cổ truyền này. Ấy là chưa nói đến những người nghe không hiểu tiếng Việt như khách du lịch quốc tế.


Cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của người chơi đờn ca tài tử trong xã hội ngày nay, giáo sư, tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đã từng phải thốt lên tại một buổi hội thảo lớn rằng ông rất buồn vì người ta đem một dòng nhạc tinh tế đến nhường ấy để thay thế cho các loại nhạc chuyên phục vụ trong các tiệm ăn ven đường.


Ông càng buồn hơn khi những người tổ chức biểu diễn trong các tiệm ăn ấy trả thù lao quá "bèo" cho các nhạc công, ca nương đã phải đem tài năng, sự thăng hoa, ngón đờn gan ruột tập luyện bao năm ròng chỉ để phục vụ khách ăn uống.


Nỗi buồn của ông càng lớn hơn khi Việt Nam dù đã có cố gắng bảo vệ, tôn vinh nhưng di sản văn hóa, nhất là với Di sản văn hóa được thế giới công nhận vẫn chưa được phát huy đúng tầm giá trị.


Những giải pháp lâu dài


Việt Nam đã xác định du lịch là một hình thức quảng bá hữu hiệu giá trị văn hóa dân tộc cũng như đóng góp tích cực cho việc bảo tồn vốn quý quốc gia.


Điều quan trọng là phải làm thế nào để tận dụng, phát huy hết lợi thế đó, đồng thời có thể tạo ra các gói sản phẩm du lịch từ di sản để giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa nghệ thuật dân tộc từng vùng miền đến đông đảo du khách trong và ngoài nước.


Một trong những câu trả lời hiệu quả nhất đã được thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam thực hiện nhiều năm qua, đó là tổ chức các tour du lịch theo không gian lễ hội, tổ chức những không gian biểu diễn theo định kỳ tại Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền số 66 đường Bạch Đằng và số 39 đường Nguyễn Thái Học (thành phố Hội An).


Đến những nơi này, du khách được thưởng thức các tiết mục nghệ thuật truyền thống của địa phương trong không gian trang trọng, riêng biệt vào các khung giờ cố định 10 giờ 15 phút, 15 giờ 30 phút hoặc 17 giờ 30 phút hàng ngày.


Buổi biểu diễn diễn ra trong khoảng một giờ đồng hồ, với nhiều tiết mục được đầu tư công phu, chọn lọc kỹ càng với sự trình diễn của các giọng ca, tiếng đàn của những nghệ sỹ chuyên nghiệp. Chương trình này phần nào sẽ giúp khán giả có những cảm nhận khá đầy đủ, nắm bắt được cái hồn của những tác phẩm nghệ thuật truyền thống.


Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang, ông Nguyễn Ngọc Minh cho biết trong các sản phẩm du lịch chúng ta đang giới thiệu, quảng bá loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc với sự tham gia biểu diễn của các nghệ nhân đang trực tiếp thực hành, bảo tồn, phát huy giá trị di sản truyền thống. Do đó, cần phải lựa chọn các tiết mục phù hợp, tránh làm tràn lan, xô bồ.


Tiền Giang đã, đang thực hiện một dự án dài hơi về việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử trên địa bàn giai đoạn 2013-2015 và tới năm 2020.


Trong đó, tỉnh coi đờn ca tài tử là gốc, Cải lương là ngọn để tiến hành các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị những môn nghệ thuật truyền thống này. Một hội thảo quy mô và một chương trình nghệ thuật hoành tráng đã được tổ chức. Rạp hát cải lương đầu tiên của Việt Nam - rạp hát Thầy Năm Tú (tại thành phố Mỹ Tho) và nhà của Bạch Công Tử (người có nhiều đóng góp trong việc lưu giữ, phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử, cải lương) đã được trùng tu, tôn tạo làm nơi trình diễn đờn ca tài tử cho du khách tới tham quan.


Tiền Giang cũng tổ chức tập huấn, truyền dạy đờn ca tài tử cho các thế hệ nghệ sỹ trẻ qua hệ thống đào tạo của Hội Văn học nghệ thuật, trường trung cấp văn hóa nghệ thuật tỉnh và ở các huyện, thành.


“Hiện đã có 95 trong số 120 ca nương, tài tử hoạt động trong lĩnh vực du lịch tham gia tập huấn. Số còn lại sẽ tiếp tục được học tập tại các lớp đào tạo sắp tới” - ông Nguyễn Ngọc Minh cho biết.


Trả đờn ca tài tử về không gian của nó, trả nghệ nhân về đúng chất tài tử là điều mà nhiều nhà quản lý văn hóa ở các tỉnh, thành phố phía Nam, nhất là các địa phương có đờn ca tài tử hướng tới.


Để làm được điều đó cần có sự tham gia tích cực của các nhà quản lý và cả lực lượng doanh nghiệp du lịch.


Hiện nay, một số tỉnh, thành phố đã chủ động rà soát chất lượng các chương trình biểu diễn đờn ca tài tử tại các điểm đến du lịch và ra một số quy định nhằm đảm bảo vệ, giữ gìn giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử. Cụ thể như dàn nhạc phải đảm bảo ít nhất 3 loại nhạc cụ, ít nhất 4 người biểu diễn, quy định thời lượng và số bài bản biểu diễn…


Rất mong ngành du lịch, mà cụ thể là các doanh nghiệp du lịch hợp tác với các nhà quản lý văn hóa, tìm hiểu, đưa ra ý kiến, kiến nghị, góp phần điều chỉnh nhằm khai thác đờn ca tài tử phù hợp để vừa phát triển du lịch vừa bảo vệ, phát huy các giá trị di sản quý báu mà ông cha để lại.


(*) Tiêu đề đã được baoxaydung.com.vn đặt lại

 


Theo Mỹ Bình/ vietnamplus.vn

', 'images' => 'Đờn ca tài tử với du lịch: Nỗi lo tầm thường hóa di sản', ), 6 => array ( 'blog_id' => '7126', 'title' => 'Mua ấm sắc thuốc giá rẻ ở đâu?', 'user_id' => '9977', 'text_parsed' => '

ấm sắc thuốc ở Hà Nội tậu chỗ nào là hàng hiệu và sở hữu chất lượng thấp. Timemart.vn chúng tôi chuyên cung cấp những cái ấm sắc thuốc tự động xịn an toàn chất lượng mang tầm giá hợp lý tương trợ rẻ nhất cho khách hàng.

 

Ấm sắc thuốc chính hãng ở Hà Nội


Ấm sắc thuốc ở Hà Nội

 

Ấm sắc thuốc bắc tự động hiện tại đang được người tiêu dụng tuyển lựa phổ biến phục vụ cho việc chữa bệnh bằng thuốc đông y thành ra ta nên ưu tiên sử dụng hàng trong nước bởi Việt Nam giờ cũng đã cung ứng được phần nhiều sản phẩm sở hữu chất lượng và ko tốn kém điện năng.Trong Đó mang sản phẩm của trường thọ. Sản phẩm mang chất lượng rẻ giá bán lại hợp lý.

 

Ấm sắc thuốc Hà Nội chính hãng


Ắm sắc thuôc Hà Nội hàng hiệu

 


**** Ấm sắc thuốc trường sinh Bình An.

 

Ấm sắc thuốc trường sinh được sản xuất tại Việt Nam và được cung ứng bởi đơn vị thương mại xuất nhập khẩu Bình An mang đến cho người dùng sự an tâm và hài lòng nhất. Giờ đây bạn chẳng phải lo lắng lúc phải ngồi canh trừng ấm sắc thuốc nữa.

 

Ấm sắc thuốc bằng điện mang công suất chỉ 450 W hoàn toàn tiết kiệm. hiện tại vững chắc ko còn người nào ngồi sắc thuốc bằng bếp củi nữa vì không mang thời kì. Ấm sắc thuốc bắc điện ra đời ko còn gì rẻ và tốt lại tiện lợi như sản phẩm này.

 

Ấm sắc thuốc bắc chính hãng Hà Nội


Ấm sắc thuốc chính hãng trường thọ chính hãng

 

- tham số kỹ thuật của ấm sắc thuốc trường sinh

 

+ Dung tích: 3.2L
+ Công suất: 450W
+ Điện áp: 220V
+ Tần số: 50HZ
+ Chức năng tự động sắc thuốc bắc, thuốc nam, những mẫu lá sắc để uống.

 

Hiên nay chúng tôi mang chi nhánh tại Hà Nội và TP.HCM bạn sở hữu thể tìm tậu sản phẩm ấm sắc thuốc trường thọ Bình An, ấm sắc thuốc hàn quốc

Tầng 1, Tòa nhà Timemart Bulding, số 50, Nguyễn Ngọc vật nài, Thanh Xuân, Hà Nội

 

Chi Nhánh : 1196 cách mệnh Tháng Tám- Quân Tân Bình - TP HCM.

 

Điện thoại: Hà Nội - 0466.545.565; tỉnh thành HCM: 0838.11.00.44

 


', 'images' => 'Mua ấm sắc thuốc giá rẻ ở đâu?', ), 7 => array ( 'blog_id' => '1089', 'title' => 'Cảnh báo đáng sợ từ hiện tượng hải mã đổ bộ kín đặc bãi biển Alaska', 'user_id' => '17', 'text_parsed' => '
Theo Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ, hàng chục nghìn con hải mã mới đây đã "di cư" tới bờ biển phía tây bắc Alaska, Mỹ nhằm tránh hiện tượng băng tan ở Bắc Cực do Trái Đất nóng lên.


 

Vào tháng 9/2014, đã có khoảng 35,000 hải mã mắc kẹt tại bờ biển Alaska do băng tan ở Bắc Cực. Sau đúng 1 năm, hiện tượng đáng báo động này lại một lần nữa lặp lại.

Bà Andrea Medeiros, phát ngôn viên của Cơ quan thủy sản và động vật hoang dã Mỹ, cho biết có hàng chục ngàn con hải mã "đổ bộ" lên bờ biển Alaka. Các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy xác của gần 50 con hải mã. Những con hải mã xấu số này có thể đã chết sau một vụ giẫm đạp để tranh nhau lên bờ.




Cảnh tượng ngoạn mục này báo hiệu sự nóng lên đáng lo ngại của Trái đất.



Vào mùa đông, hải mã Thái Bình Dương thường sinh sống tại vùng băng ở biển Bering. Theo thông lệ, vào mùa hè, khi băng biển tan chảy, chỉ có các con đực ở đây mới di cư theo phía bắc qua eo biển Bering. 

Tuy nhiên, trong vài mùa hè gần đây, do mức độ tan chảy của băng tại Bắc Cực ngày một gia tăng, hàng ngàn con hải mã đã phải dạt vào bờ biển phía tây bắc Alaska, Mỹ và bờ biển của Nga.

Được biết, "tập tục" di cư này đã bắt đầu từ năm 2007. Cho đến nay, dân số hải mã di cư ngày một gia tăng, từ vài ngàn con đến nay đã là vài chục ngàn con. Việc hải mã lên bờ với số lượng lớn là một tín hiệu xấu bởi điều này cho thấy ngày một rõ hơn hiện tượng băng tan cũng như sự nóng dần lên của Trái Đất.




Hiện tượng tương tự cũng từng xảy ra vào thời điểm này năm ngoái.



Khi nền nhiệt độ gia tăng vào mùa hè, phần băng trên biển hầu như đều tan chảy. Theo đó, chỗ trú ngụ cùng nơi sinh đẻ của hải mã đều dần dần biến mất, khiến cho các cá thể hải mã trở nên ngày một hỗn loạn. 

Mặt khác, không giống như hải cẩu, hải mã không thể bơi liên tục trong thời gian dài. Hải mã còn được biết đến là một trong những loài sinh vật nhút nhát, chỉ cần có sự xuất hiện của 1 chú gấu Bắc Cực cũng đủ khiến cho cả hàng ngàn con hải mã chạy tán loạn.




Hải mã là loài vật nhút nhát, dễ bị tác động bởi các yếu tố môi trường.



Khi được hỏi về hiện tượng này, bà Margaret Williams, giám đốc điều hành chương trình Bắc Cực, thuộc Quỹ Động vật hoang dã cho biết: "Việc di cư với số lượng lớn của hải mã là dấu hiệu đáng chú ý khi các điều kiện môi trường đang thay đổi một cách đáng kể - cụ thể hơn là hiện tượng băng biển tan đang tăng nhanh chóng. Hải mã, gấu Bắc Cực đã và đang báo động cho chúng ta biết về việc môi trường Bắc Cực đang thay đổi nhanh chóng. Thế giới cần hành động ngay để có thể giải quyết và hạn chế sự biến đổi khí hậu, nóng lên này của Trái đất".

Tham khảo TechInsider




Theo genk.vn

', 'images' => 'Cảnh báo đáng sợ từ hiện tượng hải mã đổ bộ kín đặc bãi biển Alaska', ), ); ?>;t tuồng" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_tu%E1%BB%93ng">hát tuồng cho vui, ai diễn hay thì được thưởng. Mặc dù phép tắc nhà Trần rất nghiêm khắc với tội đánh bạc nhưng Trần Dụ Tông lại thích trò này, chiêu tập các nhà giàu vào cung đánh bạc cùng vua. Có người đã xàm tấu với ông rằng Thái úy Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác (陳元卓) đã yểm bùa hại ông. Dụ Tông chút nữa là sát hại Nguyên Trác, nhưng Hiến Từ hoàng thái hậu đã can ngăn.

Ông sai phu xây cất nhiều cung điện, đào hồ ở vườn trong hậu cung, trong hồ xây đá làm núi, trồng nhiều cây cỏ lạ và nuôi chim thú quý; sau đó ông lại sai làm hồ con, lệnh cho dân ra biển chở nước mặn đổ vào hồ và thả cá biển, đồi mồi vào nuôi.

Vua thích chơi bời, các quý tộc cũng hưởng ứng theo vua khiến triều đình rối nát. Bên ngoài xảy ra mất mùa trong nhiều năm. Trần Dụ Tông chỉ có các biện pháp khắc phục tạm thời như sai các nhà hào phú bỏ thóc lúa chu cấp cho người nghèo để chống đói và thưởng chức tước cho họ để trả công; ông không chú trọng việcđắp đê và làm thủy lợi để phát triển nông nghiệp lâu dài.


Loạn Dương Nhật Lễ


Năm 1369, Trần Dụ Tông băng hà, thọ 34 tuổi, cai trị được 28 năm.

Trần Nhật Lễ (陳日禮), con của Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Dục (陳元育) được chọn làm người kế thừa đại thống. Nhật Lễ không phải là con của Nguyên Dục mà mẹ Lễ vốn là cô đào, vợ của kép hát Dương Khương (楊姜). Bà múa vở Vương mẫu hiến bàn đào, thân người rất đẹp nên Nguyên Dục si mê, buộc bà phải bỏ Dương Khương mà về làm vợ mình, nhưng lúc đó bà đã mang thai Lễ. Sau khi Nhật Lễ sinh ra, Nguyên Dục tự nhận làm con mình. Đến khi Dụ Tông bệnh nặng, truyền ngôi cho Nhật Lễ để kế thừa. Thật ra, lúc đó triều thần không muốn thế mà muốn lập Cung Định vương Trần Phủ lên thay, nhưng Hiến Từ hoàng thái hậu lại nghĩ đó là cháu mình, khăng khăng lập Nhật Lễ nên quần thần đều nghe theo. Nhật Lễ lên ngôi, tôn Thái hậu làm Thái hoàng thái hậuTrần Nguyên Trác làmThượng tướng quốc thái tể. Sau này, Thái hoàng thái hậu biết chuyện của Nhật Lễ, hết sức thất vọng mà muốn phế truất Lễ nên Lễ ra tay trước, cho người ngầm bỏ độc giết chết Thái hậu.

Nhật Lễ ở ngôi bỏ bễ chính sự, ham tửu sắc, hằng ngày chỉ rong chơi, thích các trò hát xướng, muốn đổi lại họ là Dương, việc này làm bất bình trong giới hoàng tộc nhà Trần trong đó có Thái tể Trần Nguyên Trác. Ông ngầm lập mưu bắt Lễ trong cung, cùng con trai là Trần Nguyên Tiết với 2 cháu trai là con của Thiên Ninh công chúa (天寧公主) xâm nhập và cung nhưng kế hoạch thất bại, Nguyên Trác cùng đồng đảng đều bị Nhật Lễ giết hết.

Mùa đông, tháng 10, năm 1370, Cung Định vương Trần Phủ vì có con gái làm hoàng hậu của Nhật Lễ, sợ vạ lây đến mình, tránh ra trấn Đà Giang (Gia Hưng), ngầm hẹn với các em là Cung Tuyên Vương Trần Kính, Chương Túc quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán (陳元旦) cùng với Thiên Ninh công chúa hội ở sông Đại Lại, phủ Thanh Hóa để dấy quân. Lật đổ được Nhật Lễ, giáng xuống làm Hôn Đức công (昏德公).

Cùng năm ấy, Cung Định vương Trần Phủ lên ngôi, tức là Trần Nghệ Tông.


Hồ Quý Ly chiếm ngôi

Nghệ Hoàng giữ ngai vị được 2 năm, lên làm Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho em là Trần Kính lên thay, tức là Trần Duệ Tông. Năm 1377, Duệ Tông tử trận ở Chiêm Thành, Nghệ Hoàng lập con Duệ Tông là Trần Hiện (陳晛) lên thay, sử gọi là Trần Phế Đế. Thượng hoàng Nghệ Tông nắm quyền bính trong tay quyết định mọi việc nhưng lại quá tin dùng một mình HồQuý Ly (黎季犛), là cháu của Minh Từ thái phi, mẹ của Nghệ Hoàng.

Hồ Quý Ly muốn nắm đại quyền, nên xúi giục Nghệ Hoàng giết hại các trung thần, các hoàng tử, các thân vương và ngay cả Phế Đế cũng bị sự gièm pha của Quý Ly mà bị Nghệ Tông phế bỏ. Con út của Nghệ Hoàng là Trần Ngung (陳顒), tức Trần Thuận Tông được lập lên ngôi nhưng cũng không có thực quyền. Con gái lớn của Quý Ly là Khâm Thánh hoàng hậu của Thuận Tông, nên mọi việc của Thuận Tông càng bị Quý Ly siết chặt hơn bởi lẽ Hồ Quý Ly rất gian xảo

Do sự suy yếu chính quyền, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Cụ thể là khởi nghĩa của:


  1. Ngô Bệ.
  2. Nguyễn Thanh cùng với cậu hai là Nguyễn Kỵ và em út là Nguyễn Bổ.
  3. Nguyễn Nhữ Cái.
  4. Phạm Sư Ôn - tăng sư nổi tiếng.

Vì có mưu đồ soán đoạt ngôi vị mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tông nên Hồ Quý Ly đã tạo được khá nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Rồi từ đó Quý Ly càng ngày càng lộng quyền không coi ai ra gì.

Năm 1394, Nghệ Hoàng băng hà, Hồ Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi công việc xong xuôi, Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về Tây Đô rồi lập mưu ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Trần An (陳安), khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi, tức Trần Thiếu Đế. Quý Ly lên làm phụ chính sai người giết Thuận Tông, tự xưng làm Quốc Tổ Chương Hoàng (國祖章皇).

Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Đại tướng quân Trần Khát Chân (陳渴真) cùng các tông thất lập hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly, nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết vào khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế truất Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, chiếm lấy ngôi nhà Trần, đổi sang họ Hồ (胡), lập ra triều đại nhà Hồ.

Nhà Trần chấm dứt, kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế.


Nhận định


Về chiến thắng Mông - Nguyên

Theo đánh giá của các sử gia, việc nhà Trần lên thay nhà Lý vào đầu thế kỷ 13 là cần thiết và kịp thời cho sự phục hưng nước Đại Việt bị suy yếu nghiêm trọng cuối thời nhà Lý. Nếu không có sự xuất hiện của nhà Trần, nước Đại Việt sẽ khó tồn tại trong cảnh cát cứ (Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng) bên trong và họa Mông - Nguyên bên ngoài như các nước Đại Lý, Nam Tống láng giềng. Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ của những người lãnh đạo. Dù trong hoàng tộc nhà Trần có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng.[4]

Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm dòng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc TuấnTrần Nhân TôngTrần Quang KhảiTrần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ ĐộTrần Khánh DưTrần Quốc Toản...[5]

Mông - Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới. Những nơi người Mông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Indonesia đều có biển cả ngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân nên mới bị thua trận. Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Trung Hoa, chung đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm được. Một đế quốc đã nằm trùm cả đại lục Á-Âu mà không lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa lý với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông - Nguyên của nhà Trần.


Về hậu kỳ nhà Trần

Nhìn chung, triều Trần có thể chia ba thời kỳ: thời thứ nhất từ Thái Tông đến Nhân Tông là thời xây dựng và chống Mông-Nguyên, thời thứ hai từ Anh Tông đếnHiến Tông (có thượng hoàng Minh Tông) là thời kế tục, thời thứ ba từ Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Minh Tông mất) tới khi kết thúc là thời suy tàn.

Để tránh "họa ngoại thích", nhà Trần chủ trương chính sách "hôn nhân nội tộc". Chính sự nhà Trần bắt đầu suy từ đời vua Dụ Tông xa hoa hưởng lạc, xa lánh lương thần, tin dùng gian thần. Nhưng đó đơn giản chỉ là sự hưởng thụ như Lý Cao Tông trước đây mà thôi. Tới các đời sau, đặc biệt là Trần Nghệ Tông và Trần Phế Đế (Đế Hiện), có hàng loạt biểu hiện của sự mê muội, u tối của người cầm quyền. Trần Nghệ Tông tin dùng một mình Hồ Quý Ly, nghe lời Quý Ly sát hại hàng loạt con cháu, người thân tộc họ Trần. Nhiều hành động của Nghệ Tông như thể để "dọn đường" cho Quý Ly cướp ngôi nhà Trần sau này. Thời kỳ Nghệ Tông trở về sau, vấn đề chống Chiêm Thành là lớn nhất, vậy mà một Quý Ly luôn chạy dài trước những đợt tấn công của địch, không hề lập được công bao giờ, lại vẫn được tin dùng đến như vậy. Còn Đế Hiện đối với Đỗ Tử Bình, gian thần xảo trá gây ra cái chết của cha mình (Duệ Tông), không những không trừng trị đích đáng mà còn nhiều lần thăng lên làm đại thần cấp cao hơn trước, khi chết (1382) còn được truy tặng gia phong. Những hành động tối tăm, mê muội đó phải chăng là sản phẩm của sự "thoái hóa giống nòi" do "hôn nhân nội tộc" nhiều đời gây ra? Những lần tiếm quyền, thoán ngôi khác trong lịch sử Việt Nam như Dương (Tam Kha) đoạt NgôTiền Lê đoạt Đinh, Trần đoạt Lý, Mạc cướp Lê, Trịnh át Lê đều là "cường thần hiếp chúa". Quan hệ giữa Quý Ly với Nghệ Tông, Tử Bình với Đế Hiện không thể như Trần Thủ Độ với Lý Huệ TôngMạc Đăng Dung với Lê Cung Hoàng... Việc dung túng cho cấp dưới, những kẻ trực tiếp đụng chạm tới quyền lợi của dòng tộc mình mà vẫn "không hay biết" như các vua Trần quả là hiếm có.[6]

Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết chiêu mộ nhân tài; lực lượng quan lại đều kém tài. Nếu thế hệ trước thắng Mông-Nguyên khổng lồ một cách oai hùng bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn một Chiêm Thành nhỏ bé, từng núp bóng mình trong chiến tranh chống Nguyên Mông xưa kia, một cách thảm hại bấy nhiêu. Tới lúc bị Chiêm Thành xâm lấn, không hề có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra chống được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ LêWink. Nếu trong tông thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như giai đoạn đầu thì dù Quý Ly có manh tâm cũng không thể tính chuyện cướp ngôi. Nhà Trần trượt dốc từ Trần Dụ Tông, sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ Tông đã không gượng dậy được nữa. Đó chính là thời cơ cho Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi nhà Trần.[7]

Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Trang sử về nhà Trần trong sử sách nằm trong số những trang sáng nhất và để lại nhiều bài học cho đời sau.


Đối ngoại


Trong triều đại nhà Trần, ngoài những cuộc chiến tranh với quân Nguyên Mông ở phía Bắc thì Đại Việt cũng có những sự liên hệ với các nước láng giềng phía tây và phía nam là Ai Lao và Chiêm Thành.


Với Chiêm Thành

Có thể nói trong các triều đại Việt Nam, Chiêm Thành không lúc nào không quấy phá và cuộc chiến tranh giữa hai nước vẫn thường xuyên xảy ra. Lúc nhà Trần lên ngôi, nước Chiêm Thành vẫn giữ lệ triều cống và giao hòa. Trong đời vua Trần Nhân Tông, sau khi chinh phạt Chiêm Thành, thì giữa Đại Việt và nước Chiêm Thành có sự qua lại tốt đẹp. Đến đời vua Trần Anh Tông, lúc bấy giờ Trần Nhân Tông đã lên làm thái thượng hoàng và trong lúc sang thăm vãn cảnh nước Chiêm và để cho tình giao hảo của hai nước trở nên bền vững hơn, nhà Trần đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân vào năm 1306. Chế Mân dâng châu Ô và châu Rí cho Đại Việt. Vua Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu rồi đặt quan cai trị cũng như cho di dân sang ở. Một năm sau, Chế Mân chết. Theo tục lệ Chiêm Thành thì hoàng hậu phải bị hỏa thiêu chết theo. Vua Trần Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung giả tiếng vào thăm rồi tìm kế rước về.

Chế Mân chết thì Chế Chỉ lên thay và đòi lại hai châu mà Chế Mân đã dâng cho Đại Việt. Vua Trần Anh Tông sai quân sang bắt Chế Chỉ đem về trị tội và phong cho em của Chế Chỉ là Chế Đà A Bà lên thay làm vua nước Chiêm Thành. Đến đời vua Trần Dụ Tông, con và rể của vua Chiêm Thành tranh giành nhau ngôi vua, quân nhà Trần sang can thiệp nhưng bị quân Chiêm Thành đánh bại cả hai lần.

Năm 1370, các hoàng tử con vua Minh Tông lật đổ Dương Nhật Lễ (xem phần "Thời kỳ suy tàn" bên dưới) lập Trần Nghệ Tông. Mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành xui vua Chiêm đánh Đại Việt. Lúc đó thế lực nhà Trần suy yếu, Chiêm Thành có ý khởi binh đánh đòi lại hai châu đã mất. Đến đời vua Trần Duệ Tông, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga quấy rối biên giới, vua Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đem quân trấn giữ Hóa Châu. Bồng Nga đem 10 mâm vàng dâng lên. Tử Bình ỉm đi, cướp làm của mình, nối dối là Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên đem quân đánh. Duệ Tông giận lắm, quyết ý thân chinh. Cuối năm 1376, quân Trần xuất phát. Năm 1377, quân Trần chiếm cửa Thị Nại (Quy Nhơn ngày nay) rồi tiến đánh kinh thành là Đồ Bàn. Lúc đó Chế Bồng Nga, một ông vua có tài thao lược, dùng kế dụ quân Trần vào ổ mai phục đánh tan. Vua Trần Duệ Tông bị tử trận, Hồ Quý Ly, Đỗ Tử Bình rút quân bỏ chạy về nước. Thừa thắng xông lên, Chế Bồng Nga nhiều lần mang quân sang đánh phá Đại Việt, Hồ Quý Ly nhiều lần ra trận bị thua, quân Chiêm ba lần chiếm được kinh thành Thăng Long, vua tôi nhà Trần phải bỏ thành chạy. Quân Chiêm cướp phá kinh thành rồi rút về. Đỗ Tử Bình chỉ bị đồ làm lính 1 năm rồi sau đó lại được nhấc lên địa vị cao hơn.

Năm 1390, Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh. Tướng trẻ Trần Khát Chân được lệnh đem binh dàn trận ở sông Hải Triều (sông Luộc ở vùng Hưng Yên ngày nay). Nhờ có hàng tướng bên Chiêm sang chỉ chỗ, Khát Chân sai chĩa hỏa pháo nhằm cả vào thuyền Chế Bồng Nga mà bắn. Vua Chiêm trúng đạn tử trận, quân Chiêm bỏ chạy và sau đó con của Chế Bồng Nga hàng phục Đại Việt. Kể từ đó trong thời gian dài Chiêm Thành không dám đánh Đại Việt nữa.


Với Ai Lao

Vào đời nhà Trần, quân của Ai Lao thường sang quấy phá cướp bóc ở vùng Nghệ An và Thanh Hóa. Vì thế triều đình đã phải sai quân lính đi đánh dẹp mãi và chính các vị vua phải thân chinh đi dẹp giặc, trong đó nhiều nhất phải kể đến vua Trần Nhân Tông. Mỗi lần bị thua thì quân Ai Lao rút về, nhưng sau đó thì lại sang quấy phá. Trong đời vua Trần Anh Tông, ông cũng nhiều lần thân chinh đi dẹp giặc nhưng ông cũng đã ra lệnh cho Phạm Ngũ Lão hơn ba, bốn phen đi dẹp giặc. Vua Trần Minh Tông cũng nhiều phen thân chinh đi dẹp giặc. Trong triều đại nhà Trần, mục đích của Đại Việt là dẹp các cuộc đánh phá và quấy nhiễu của quân Ai Lao chứ không có mục đích đánh chiếm lấy đất nước này.


Tổ chức quân đội






 

Hình vẽ mô tả binh sĩ thời Trần trên đồ gốm


Quân chủ lực nhà Trần gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh. Cấm quân được gọi là quân túc vệ.

Các đơn vị quân đội được gọi là quân. Đứng đầu mỗi quân là một đại tướng quân. Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội. Mỗi đô có 5 ngũ, đứng đầu mỗi ngũ là đầu ngũ.

Cấm quân là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm, có thể được điều động đi các lộ để tác chiến.

Nhằm có lực lượng đông đảo cần thiết khi chống xâm lược, nhà Trần kế tục chính sách ngụ binh ư nông (giữ quân lính ở nhà nông) của nhà Lý, vừa đảm bảo số quân cần thiết phòng khi có chiến tranh xảy tới. Vua Trần 1 phần giữ lại ở kinh thành phòng khi có chuyện cấp bách, một phần cho về quê cày ruộng. Quân cấm vệ và các lộ có khoảng 10 vạn người Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn,


Chiến tranh chống Nguyên Mông


Ở phương Bắc, người Mông Cổ dần dà xâm chiếm Trung Quốc. Sau khi tiêu diệt nhà Kim phía bắc, các vua Mông Cổ tiến xuống phía nam để diệt nước Nam Tốngvốn đã suy yếu khi bị nhà Kim của người Nữ Chân xâm lấn từ đầu thế kỷ 12. Để tạo thế bao vây Nam Tống, vua Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam(1254) và sau đó đánh sang Đại Việt.

Cuối năm 1257, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai hay 兀良合台) mang 3 vạn quân tiến vào nước Đại Việt qua đường Vân Nam. Vua Trần Thái Tông đích thân ra chiến trận. Quân Trần cố gắng chặn nhưng quân Mông Cổ vẫn tiến vào được Thăng Long. Nhân dân Thăng Long theo lệnh của triều đình đã thực hiện "vườn không nhà trống", rút về Thiên Mạc (Hà Nam). Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào Thăng Long chưa đầy 1 tháng thì bị thiếu lương thực. Nhân cơ hội đó quân Đại Việt phản công ở Đông Bộ Đầu (Từ Liêm-Hà Nội). Quân Mông Cổ thua phải rút khỏi Thăng Long, đến vùng Quy Hóa (Yên Bái) bị quân của tộc trưởng Hà Bổng đánh tan tác, quân Mông Cổ rút chạy về Vân Nam.

Năm 1279, quân Mông diệt được Nam Tống. Từ năm 1280, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt đã lập ra nhà Nguyên. Để lấy cớ đánh Đại Việt, nhà Nguyên cho Toa Đômượn đường đánh Chiêm Thành (Champa). Sau nhiều hoạt động ngoại giao hòa hoãn bất thành, cuối cùng chiến tranh bùng phát. Cuối năm 1284, nhà Nguyên liền phái hoàng tử Thoát Hoan và tướng Toa Đô mang quân đánh hai đường nam, bắc kẹp lại để chiếm Đại Việt. Thoát Hoan đi từ Quảng Tây còn Toa Đô đi đường biển từ cảng Quảng Châu, trước hết đánh vào Chiêm Thành rồi đánh "gọng kìm" thốc lên từ phía nam Đại Việt.

Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên (huy động hơn 50 vạn quân) và cũng là cuộc kháng chiến gian khổ nhất của nhà Trần chống phương Bắc, quyết định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó.

Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Mông, dùng chiến thuật "vườn không nhà trống" để quân địch không có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào cuối xuân, đầu hè năm 1285. Với những chiến thắng ở Tây KếtHàm TửChương Dương, quân Trần đại thắng, bắt giết được Toa Đô. Thoát Hoan thu tàn quân chạy về bắc.

Thắng lợi năm 1285 cơ bản xác định sự tồn tại của Đại Việt và củng cố lòng tin của người Việt có thể đương đầu được với đạo quân hùng mạnh của Mông Nguyên liền kề phía bắc. Bởi vậy trong lần kháng chiến thứ 3 chống Mông Nguyên năm 1287, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói với vua Trần: "...Quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa... Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn". Nhà Trần tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật tránh thế mạnh, triệt lương thảo. Cuối cùng quân Trần đại phá quân Nguyên ở sông Bạch Đằng tháng 4 năm 1288, bắt sống Nguyên soái Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ.Thoát Hoan một lần nữa chạy trốn về bắc.

Sau thất bại lần thứ ba ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện. Tới năm 1294 lại định điều binh lần nữa thì chính Hốt Tất Liệt băng hà. Cháu nội là Nguyên Thành Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa. Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt.


Hành chính


<dl><dd>

</dd></dl>

Đời nhà Trần, Việt Nam chia ra làm 12 lộ, Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) chép như sau:


<dl><dd>Nhâm Dần, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 11 1242: Mùa xuân, tháng 2, chia nước làm 12 lộ. Đặt chức an phủtrấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trị. Các xã, sách thì đặt chức đại tư xãtiểu tư xã. Từ ngũ phẩm trở lên là đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống là tiểu tư xã. Có người làm kiêm cả 2-4 xã, cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi là xã quan.</dd></dl>

Mỗi lộ đều có quyền dân tịch để kiểm soát dân số trong lộ. Dân chúng trong nước được chia ra làm 3 hạng: hạng tiểu hoàng nam (từ 18 tuổi đến 20 tuổi), hạng đại hoàng nam (từ 20 tuổi đến 60 tuổi) và hạng lão (trên 60 tuổi). Lúc đầu chỉ có những người trong hoàng tộc mới được giữ các chức quan nhưng từ đời vua Anh Tông, những người tài đức cũng được tuyển dụng vào giữ các chức vụ quan trọng này. Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, phần chính biên, có ghi lại 12 lộ như sau: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng Khoái, Thanh Hoá, Hoàng Giang, Diễn Châu.

Ngoài các lộ trên, nhà Trần còn đặt các phủ Lâm Bình, Thái Nguyên, Lạng Giang.

Khi quân Mông Cổ đánh bại nhà Nam Tống, một số quan lại địa phương nhà Tống đã quy phụ nhà Trần, như trường hợp Hoàng Bính đem dâng phủ Tư Minh (nay là Bằng Tường) năm 1263[8]

Năm 1306, nhà Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Jaya Sinhavarman III. Vua Chiêm Thành dâng hai Châu Ô, Rý làm của hồi môn. Nhà Trần đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu (Nam Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế ngày nay).


Luật pháp


Vua Thái Tông cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh. Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại như sau:


<dl><dd>Canh Dần, Kiến Trung năm thứ 5 1230: Mùa xuân, tháng 3, khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển.</dd><dd>Định bị đồ có mức độ khác nhau:
  • Loại bị đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là xã Nhật Cảo), cày ruộng côn, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăngthóc.
  • Loại bị đồ làm Lao thành binh thì thích vào cổ 4 chữ, bắt dọn cỏ ở Phượng Thành, thành Thăng Long, lệ vào quân Tứ sương.

</dd></dl>

Đặt ty bình bạc là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long lúc đó với chức quan kinh doãn, chuyên xét đoán việc kiện tụng ở kinh thành. Năm 1265đổi thành Đại an phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn.


Kinh tế


<dl><dd>

</dd></dl>

Về mặt nông nghiệp: để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan đặc trách trông coi việc đê gọi là hà đê sứ. Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng. Đại Việt sử ký toàn thư có chép:


<dl><dd>Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7, 1231: Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào (là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu.</dd></dl>

Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương.

Về mặt thuế má: Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền. Thuế thân được đóng bằng tiền và ít nhiều tuỳ theo số ruộng có. Ai có dưới một mẫu ruộng thì được miễn thuế. Thuế điền thì đóng bằng thóc. Ngoài ra còn có thuế trầu cau, rau quả, tôm cá v.v. Về mặt tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng - vàngbạc được đúc thành phân, lượng và có hiệu của nhà vua.


Giáo dục, thi cử 


văn học rất được mở mang, Nho học cũng phát triển hơn so với thời Lý.

Ngoài Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng.

Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra giúp nước chứ chưa có mở định kỳ. Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm thì có một kỳ thi. Năm 1247, nhà vua lại cho đặt ra khảo thi tam khôi để lấy trạng nguyênbảng nhãn và thám hoaLê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng nhãn.

Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ.[9] Có 2 khoa thi 1256 và 1266 lấy 2 trạng nguyên là Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên nên tổng số có 12 người đỗ đầu trong các kỳ thi.


Tôn giáo


 Tôn giáo Đại Việt thời Trần

Về Phật giáo, vào đầu đời nhà Trần thì Phật giáo còn thịnh. Các nhà vua đều sùng đạo cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi. ĐVSKTT chép lại Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng phật để thờ.

Vua Nhân Tông còn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật, và ông chính là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm. Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi. Về Lão giáo thì cũng được nhân dân ngưỡng mộ. Do đó, nhà Trần cũng cho mở những khảo thi tam giáo như đời nhà Lý.


Văn hóa nghệ thuật






 

Chân đèn (phần dưới) gốm mentrắng với hình tượng rồng thời Trần


Đời nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt Sử Ký và đây là bộ sử đầu tiên của Việt Nam. Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một ông trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải kính phục. Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, cương trực. Các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị như Hịch tướng sĩ.

Hàn Thuyên tức Nguyễn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt ra luật thơ Nôm. Vì thế đã có nhiều học giả, văn nhân đã theo gương của Hàn Thuyên mà làm những bài thơ Nôm rất giá trị. ĐVSKTT chép:


<dl><dd>Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sông Lô. Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.</dd></dl>

Nghệ thuật điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so với thời Lý, trong đó có một số phù điêu khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách Chiêm Thành. Cách trang trí hoa dựa trên nghệ thuật dân dụng.[10]





 

Tháp Bình Sơn thời Trần ở chùa Vĩnh Khánh, thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc


Về kiến trúc, dựa trên các tháp gốm, tháp đá, mô hình nhà bằng đất nung, mảnh ngói vỡ khai quật được, triều Trần tiếp tục kế thừa truyền thống nhà Lý với điểm nổi bật là chùa tháp, bộ đấu củng chống đỡ mái cầu kỳ và các hoạt tiết trang trí đậm màu sắc Phật giáo.

Âm nhạc Đại Việt thời Trần chịu ảnh hưởng của Ấn ĐộChiêm Thành và Trung Quốc.[11] Một số nhạc công bị bắt từ Chiêm Thành và Trung Quốc trong các cuộc chiến đã truyền nghề ca hát cho dân Đại Việt, càng ngày càng phổ biến.


Chính sách hôn nhân


Nhà Trần lấy ngôi nhà Lý bằng biện pháp hôn nhân. Nhà Trần từ vai trò là ngoại thích của nhà Lý đã giành ngôi. Do đó, để tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kết hôn với người trong họ.

Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh[12] đã dẫn ra hơn 30 trường hợp hôn nhân nội tộc của nhà Trần:


  1. Trần Liễu, anh Thái Tông, con Thượng hoàng Trần Thừa, lấy Thuận Thiên công chúa, con vua Lý Huệ Tông và Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa, Trần Liễu và Thuận Thiên là con cô con cậu.
  2. Năm 1225, Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông, lấy Lý Chiêu Hoàng, em Thuận Thiên; trường hợp này cũng là con cô lấy con cậu.
  3. Sau khi Lý Huệ Tông qua đời, giáng Huệ hậu (Trần Thị Dung) làm Thiên Cực công chúa, gả cho Trần Thủ Độ tức là chị em họ lấy nhau.
  4. Năm 1237, vì Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ ép Thái Tông lấy Thuận Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng với Trần Liễu. Trường hợp này vừa là con cô con cậu lấy nhau, vừa là em chồng lấy chị dâu.
  5. Vua Thái Tông hứa gả con gái là công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương và đã cho Thiên Thành tới ở nhà Nhân Đạo vương, là cha đẻ ra Trung Thành vương, để chờ ngày cưới. Năm 1251, Hưng Đạo vương muốn lấy công chúa Thiên Thành, đang đêm lẻn vào phòng Thiên Thành thông dâm. Thụy Bà Trưởng công chúa, chị Thái Tông, lại là mẹ nuôi Hưng Đạo vương, đang đêm gõ cửa cung nói dối là Hưng Đạo vương đã bị Nhân Đạo vương bắt giam, xin vua cứu giúp. Sự thật, khi vua sai người tới thì Hưng Đạo vương còn trong phòng Thiên Thành và lúc ấy Nhân Đạo vương mới biết. Hôm sau Thụy Bà phải dâng mười mâm vàng sống xin cưới Thiên Thành cho Hưng Đạo. Vua bất đắc dĩ phải gả và bồi thường cho Trung Thàng vương. Như vậy Thiên Thành là em họ Hưng Đạo, vì Hưng Đạo là con Trần Liễu Thiên Thành là con Trần Thái Tông. Đây là trường hợp con chú con bác lấy nhau.
  6. Năm 1258, Trần Thánh Tông lấy Thiên Cảm công chúa là con Trần Liễu, tức là con chú con bác lấy nhau.
  7. Thụy Bảo công chúa, con vua Thái Tông, lấy Uy Văn vương Toại.
  8. Gả công chúa tên Thúy, con Thái Tông cho Thượng vị Văn Hưng hầu.
  9. Thiên Thụy công chúa, con vua Thánh Tông và Thiên Cảm, tức cháu nội Thái Tông và cháu ngoại Trần Liễu, lấy Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn (con Trần Hưng Đạo), cháu nội Trần Liễu; trường hợp này vừa là con cô con cậu (Trần Hưng Đạo và Thiên Cảm là con Trần Liễu) vừa là cháu chú cháu bác lấy nhau.
  10. Thiên Thụy công chúa lại tư thông với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là tông thất nhà Trần. Khánh Dư nhờ có công đánh quân Nguyên được Thượng hoàng Thánh Tông nhận làm con nuôi.
  11. Năm 1274, Nhân Tông, con Thánh Tông, lấy Bảo Thánh, rồi Tuyên Từ, đều là con Hưng Đạo vương. Trường hợp này giống Thiên Thụy lấy Quốc Nghiễn.
  12. Anh Tông, con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, chắt Thái Tông, lấy Văn Đức phu nhân năm 1292, là con Hưng Nhượng vương Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo vương, chắt Trần Liễu. Trường hợp này là cháu cô cháu cậu (Hưng Đạo vương và Thiên Cảm là con Trần Liễu) hay chắt chú chắt bác lấy nhau.
  13. Sau Anh Tông lại bỏ Văn Đức phu nhân mà lấy em ruột phu nhân là Thánh Tư.
  14. Anh Tông lấy Huy Tư là con Thụy Bảo công chúa và Trần Bình Trọng. Thụy Bảo là em Thánh Tông, Anh Tông là cháu nội Thánh Tông, tức cháu lấy cô.
  15. Năm 1301, Thiên Trân công chúa, con Anh Tông, Anh Tông là con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, lấy Uy Túc công Văn Bích, cháu nội Trần Quang Khải. Quang Khải và Thánh Tông là anh em, tức cháu chú cháu bác lấy nhau.
  16. Thiên Trân chết, Uy Túc lại lấy Huy Thánh công chúa.
  17. Thượng Trân công chúa, em Anh Tông, chắt Thái Tông lấy Văn Huệ công Quang Triều, con Quốc Tảng, cháu Hưng Đạo, chắt Trần Liễu, tức chắt chú chắt bác lấy nhau.
  18. Trần Minh Tông, con Anh Tông, cháu Nhân Tông, lấy Huy Thánh tức Lệ Thánh, con gái lớn Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Chẩn là em Anh Tông: con chú con bác lấy nhau.
  19. Minh Tông gả Huy Chân, con Nhân Tông, cho Uy Giản hầu năm 1317. Mẹ Huy Chân là Trần Thị Thái Bình, cung tần của Thượng hoàng Anh Tông.
  20. Năm 1318 Minh Tông gả Thiên Chân Trưởng công chúa cho Huệ Chính vương.
  21. Năm 1337 Hiến Tông, con Minh Tông, lấy Hiển Trinh, con gái lớn Huệ Túc vương Đại Niên.
  22. Năm 1342, Thiên Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy Hưng/Chính Túc vương Kham.
  23. Năm 1349, Dụ Tông, con Minh Tông, lấy con gái thứ tư Huệ Túc vương là YÙ Từ Nghi Thánh.
  24. Năm 1351, Dụ Tông loạn dâm với Thiên Ninh là chị ruột. Nguyên năm 1339 Dụ Tông bị chết đuối ở Hồ Tây, được thầy thuốc Tàu là Trâu Canh dùng kim châm cứu khỏi nhưng đoán sau này lớn lên sẽ bị liệt dương. Sau quả nhiên sự việc xảy ra đúng như vậy, Trâu Canh được vời đến chữa, khuyên vua giết một đứa con trai nhỏ tuổi lấy mật hoà với thuốc dương khởi thạch mà uống rồi thông dâm với chị hay em ruột. Vua nghe theo, thông dâm với Thiên Ninh công chúa.
  25. Huy Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy tông thất Nhân Vinh. Sau Nhân Vinh bị Dương Nhật Lễ giết, Nghệ Tông là anh, lại gả Huy Ninh cho Quý Ly.
  26. Duệ Tông, con Minh Tông và Lê Đôn Từ, cô Quý Ly, lấy Hiền Trinh là em họ Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
  27. Duệ Tông lấy con gái Thái bảo Trần Liêu làm phi.
  28. Năm 1375 Duệ Tông gả con là Trang Huy công chúa cho Nguyên Dẫn, con Cung Chính vương. Cung Chính vương và Duệ Tông đều là con Minh Tông, tức con chú con bác lấy nhau.
  29. Thiên Huy hay Thái Dương công chúa, con Nghệ Tông, lấy Phế Đế là con Duệ Tông. Nghệ Tông và Duệ Tông cùng là con Minh Tông, mẹ Nghệ Tông là Minh Từ, mẹ Duệ Tông là Đôn Từ, là hai chị em ruột, cô của Quý Ly: vừa là con chú con bác, vừa là cháu dì cháu già lấy nhau.
  30. Sau khi Phế Đế chết, vợ là Thái Dương tư thông với Nguyên Uyên, con Cung Tín vương Thiên Trạch, em Nghệ Tông: con chú con bác tư thông với nhau.
  31. Năm 1393, thượng hoàng Trần Nghệ Tông giận Thái Dương, đem gả Thái Dương cho Nguyên Hãng là em Nguyên Uyên để làm nhục.
  32. Tuyên Huy công chúa, con Duệ Tông, lấy Quan Phục Đại vương Húc, con Nghệ Tông, giống trường hợp Thái Dương lấy Trần Phế Đế.
  33. Quý Ly gả Trang Huy công chúa, con Tông thất Nhân Vinh (bị Nhật Lễ giết) cho Mộng Dữ, con Trần Nguyên Đán, cháu bốn đời của Quang Khải.
  34. Thuận Tông, con út Nghệ Tông, lấy Thánh Ngẫu công chúa là con gái lớn của Hồ Quý Ly và Huy Ninh công chúa. Huy Ninh là em Nghệ Tông, tức là con cô con cậu lấy nhau. Thuận Tông lại là cháu nội của Đôn Từ, cô của Quý Ly, lấy con gái Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.

Từ khi Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly là một ngoại thích, lập tức nhà Trần cũng gặp "họa ngoại thích" và mất về tay ngoại thích.


Những nhân vật có ảnh hưởng nhất triều Trần

Những nhân vật có ảnh hưởng nhất triều Trần, được đánh giá dựa trên sự đống góp, công trạng của họ cho triều đại, giúp triều đại này tồn tại và phát triển.



<th>STT</th><th>Tên</th><th>Sinh mất</th><th>Ghi chú</th>
1 Trần Tự Khánh (Kiến Quốc đại vương) 1175 - 1223  
2 Tô Trung Từ (Đại tướng quân)  ? - 1211  
3 Trần Thị Dung (Linh Từ Quốc Mẫu)  ? - 1259  
4 Trần Thủ Độ (Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương) 1194 - 1264  
5 Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Đại Vương) 1232 - 1300  
6 Trần Quang Khải (Chiêu Minh vương) 1241 - 1294  
7 Trần Nhật Duật (Chiêu Văn vương) 1255-1330  
8 Trần Bình Trọng (Bảo Nghĩa vương) 1259-1285  
9 Phạm Ngũ Lão (Điện súy Thượng tướng quân Quan nội hầu) 1255-1320  
10 Trần Quốc Toản (Hoài Văn hầu) 1267-1285  
11 Trần Khánh Dư (Nhân Huệ vương)  ?-1340  
12 Chu Văn An (Văn Trinh Công) 1292 - 1370  
13 Mạc Đĩnh Chi (Tả bộc xạ Hầu tước) 1280-1346  
14 Đoàn Nhữ Hài (Tri khu mật viện sự) 1280-1335  
15 Trương Hán Siêu (Thái phó)  ?-1354  
16 Trần Khát Chân (Đại tướng quân, mưu trừ Hồ Quý Ly mà thất bại) 1370-1399  

Các Hoàng đế nhà Trần



<th colspan="8">Triều đại nhà Trần(12251400)</th><th align="center">Miếu hiệu</th><th align="center">Thụy hiệu</th><th align="center">Họ tên</th><th align="center">Thời gian trị vì</th><th align="center">Xưng hiệu</th><th align="center">Niên hiệu</th><th align="center">Lăng mộ</th>

Danh sách Hoàng đế nhà Trần
Thái Tông
(太宗)
Thống Thiên Ngự Cực Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng Đế
統天御極聖武元孝皇帝
Trần Cảnh
(陳煚)
1225 - 1258 Thiện Hoàng
(善皇)
Kiến Trung (建中; 1225 - 1237)
Thiên Ứng Chính Bình (天應政平; 12381350)
Nguyên Phong (元豐; 1251 - 1258)
Chiêu Lăng (昭陵)
Thánh Tông
(聖宗)
Hiến Thiên Thể Đạo Văn Vũ Tuyên Hiếu Hoàng Đế
憲天體道文武宣孝皇帝
Trần Hoảng
(陳晃)
1258 - 1278 Nhân Hoàng
(仁皇)
Thiệu Long (紹隆; 1258 - 1272)
Bảo Phù (寶符; 1273 - 1278)
Dụ Lăng (裕陵)
Nhân Tông
(仁宗)
Pháp Thiên Sùng Đạo Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
法天崇道元明睿孝皇帝
Trần Khâm
(陳昑)
1279 - 1293 Hiếu Hoàng
(孝皇)
Thiệu Bảo (紹寶; 1278 - 1285)
Trùng Hưng (重興; 1285 - 1293)
Đức Lăng (德陵)
Anh Tông
(英宗)
Ứng Thiên Quảng Vận Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế
應天廣運欽明仁孝皇帝
Trần Thuyên
(陳烇)
1293 - 1314 Anh Hoàng
(英皇)
Hưng Long (興隆) Thái Lăng (泰陵)
Minh Tông
(明宗)
Thể Thiên Sùng Hóa Khâm Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
體天崇化欽明睿孝皇帝孝皇帝
Trần Mạnh
(陳奣)
13141329 Ninh Hoàng
(宁皇)
Đại Khánh (大慶; 1314 - 1323)
Khai Thái (開泰; 1324 - 1329)
Mục Lăng (穆陵)
Hiến Tông
(憲宗)
Thể Nguyên Ngự Cực Duệ Thánh Chí Hiếu Hoàng Đế
體元御極睿聖至孝皇帝
Trần Vượng
(陳旺)
13301341 Triết Hoàng
(哲皇)
Khai Hựu (開佑) An Lăng (安陵)
Dụ Tông
(裕宗)
Thống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế
統天體道仁明光孝皇帝
Trần Hạo
(陳暭)
13421369 Dụ Hoàng
(裕皇)
Thiệu Phong (紹豐; 1341 - 1357)
Đại Trị (大治; 1358 - 1369)
Phụ Lăng (阜陵)
Không có Hôn Đức công (昏德公) Dương Nhật Lễ
(楊日禮)
18 tháng 71369 - 1 tháng 121370 Không có Đại Định (大定) núi Đại Mông
Nghệ Tông
(藝宗)
Thể Thiên Kiến Cực Thuần Hiếu Hoàng Đế
體天建極純孝皇帝
Trần Phủ
(陳暊)
13711372 Nghĩa Hoàng
(義皇)
Thiệu Khánh (紹慶) Nguyên Lăng (沅陵)
Duệ Tông
(睿宗)
Kế Thiên Ứng Vận Nhân Minh Khâm Hiếu Hoàng Đế
繼天應運仁明欽孝皇帝
Trần Kính
(陳曔)
13721377 Khâm Hoàng
(欽皇)
Long Khánh (隆慶) Hy Lăng (熙陵)
Không có Linh Đức đại vương
靈德大王
Trần Hiện
(陳晛)
13771388 Giản Hoàng
(簡皇)
Xương Phù (昌符) núi An Bài
Thuận Tông
(順宗)
Thái Thượng Nguyên Quân Hoàng Đế
太上元君皇帝
Trần Ngung
(陳顒)
13881398 Nguyên Hoàng
(元皇)
Quang Thái (光泰) Yên Sinh Lăng (安生陵)
Không có Bảo Ninh đại vương
保寧大王
Trần An
(陳安)
Tháng 31398- 28 tháng 2,1400 Không có Kiến Tân (建新) Không rõ tung tích

Thế phả nhà Trần





 

Bản đồ mô tả các thế hệ vua và quý tộc nhà Trần















































































































































































                           
            1
Trần Thái Tông
1226 - 1258
 
             
            2
Trần Thánh Tông
1258 - 1278
 
             
            3
Trần Nhân Tông
1278 - 1293
 
             
            4
Trần Anh Tông
1293 - 1314
 
             
            5
Trần Minh Tông
1314 - 1329
 
             
                           
8
Trần Nghệ Tông
1370 - 1372
  6
Trần Hiến Tông
1329 - 1341
        7
Trần Dụ Tông
1341 - 1369
  9
Trần Duệ Tông
1373 - 1377
 
                           
11
Trần Thuận Tông
1388 - 1398
                    10
Trần Phế Đế
1377 - 1388
 
                           
12
Trần Thiếu Đế
1398 - 1400
                       
                           

Đền thờ, lăng mộ





', 'images' => 'LỊCH SỬ VIỆT NAM :NHÀ TRẦN', ), 1 => array ( 'blog_id' => '2407', 'title' => 'Bếp Ăn Từ Thiện', 'user_id' => '2828', 'text_parsed' => '

Lo ăn hai bữa cho 78 người (trẻ mồ côi, người già neo đơn, người khuyết tật, sinh viên nghèo), chuyện “gạo, đường, mắm, cá” là bài toán mà dì Mai Thị Bé,Trưởng ban vận động khu phố 1 thuộc phường 11 quận 11 phải “giải” mỗi ngày. Để duy trì bếp ăn từ thiện, ngoài tiền lương hưu, từ ủng hộ của các nhà hảo tâm, dì Bé “U 70” còn tranh thủ làm thêm…

“Khu phố này nghèo lắm, lại tập trung toàn dân “thứ dữ”, nghiện ngập, cờ bạc, hút chích. Mấy đứa trẻ bị bỏ lăn lóc, không có bữa cơm chu đáo, như trường hợp hai chị em bé T.V., T.N., chưa tròn 10 tuổi mà cha ở tù, mẹ bỏ đi không phải là chuyện hiếm. Tôi thấy tội nghiệp quá bèn gom chúng lại, nấu cho bữa cơm. Nấu một bữa, hai bữa… rồi không lẽ bỏ mấy đứa nhỏ đói?”. Căn nhà của dì Bé trở thành bếp ăn từ thiện trong mấy năm qua, làm ấm lòng từ trẻ mồ côi, người bệnh tâm thần cho đến các cụ già neo đơn, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

Mỗi tháng dì cần 15 triệu đồng và 500kg gạo - quá nhiều so với lương hưu của dì. Vậy mà dì xoay xở được “tiền chợ” rất tài tình. Các Mạnh Thường Quân cũng đóng góp thêm, người giúp chai nước mắm, kẻ cân đường”. Dì lật cuốn sổ ghi tấm lòng của các nhà hảo tâm đóng góp hàng tháng: chồng và con góp 3,5 triệu đồng; Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo: 200 kg gạo, tiểu thương các chợ đóng góp dầu ăn, đường, bột ngọt… Tiền lãnh từ các giải thưởng gương Người tốt, việc tốt, Chiến sĩ thi đua, bằng khen… cũng được dì Bé dành để đi chợ, nếu tháng nào thiếu thì chạy đi vay mượn thêm của bạn bè.

Tiếng lành đồn xa, bếp ăn từ thiện của dì Bé ngày càng đông người đóng góp, trong đó có những chị từng được dì Bé giúp vay vốn làm ăn. Có những đêm dì mất ngủ vì nhà hết gạo nhưng ngày hôm sau, mấy cậu thanh niên nhớ ơn dì giúp cai nghiện đã vác mấy bao gạo đến tặng. Cũng có người trả ơn dì bằng cách quay lại phụ việc ở bếp cơm từ thiện. 

Dì Bé bộc bạch, niềm vui của dì không phải là bảng thành tích, là những tấm giấy khen mà là hình ảnh bếp ăn từ thiện ngày nào cũng đỏ lửa. Cụ bà Huỳnh Thị Sanh, 82 tuổi, không có người thân, bệnh tật, cảm động nói: “Không có chị Bé, không có bếp ăn từ thiện, chắc tôi “đi” lâu rồi. Chị Bé giúp tôi chân tình như ruột thịt, tôi thật lòng không biết nói cảm ơn sao cho hết”.

“Người già ăn uống khó khăn, mấy cháu sinh viên cần sức học nên ăn uống phải đủ chất và phải ngon” - dì Bé nói. Sinh viên nghèo không chỉ biết ơn dì ở những bữa cơm từ thiện ngon, sạch mà còn vì được dì thương như con cháu trong nhà, giúp tìm nhà trọ miễn phí, xin quần áo cũ, xe đạp, xin học bổng cho các em.

“Sắp bước qua tuổi bảy mươi, có lúc nào dì cảm thấy gót mòn, chân mỏi?”, dì đáp lại thắc mắc của chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu. Chợt dì đăm chiêu: “Sắp đến Tết rồi, không biết có ai tài trợ quà Tết cho các cụ già không nữa?”.

 

 

', 'images' => 'Bếp Ăn Từ Thiện', ), 2 => array ( 'blog_id' => '494', 'title' => 'VỀ QUÊ', 'user_id' => '62', 'text_parsed' => '
Bé ngoan nghỉ hè.

Được về quê nội.

Mặt ngời rạng rỡ.

Líu lo cả ngày.

 

Mắt tròn thơ ngây.

Kể chuyện trường lớp.

Mi cong chớp chớp.

Cái ngủ theo về.

 

Ngủ ngoan yêu nhé.

Mơ cánh đồng xanh.

Trưa lành gió mát.

Sáo ngân điệu nhạc.

 

Thuyền trăng vằng vặc.

Đu xuống sân cười.

Ru cháu à ơi.

Ngân dài câu hát.

 

Niềm vui bát ngát.

Theo vào giấc mơ.

Bình minh đang chờ.

Chân vui nhón gót…

 

Minh Linh, 14- 7- 2015.



', 'images' => 'VỀ QUÊ', ), 3 => array ( 'blog_id' => '6280', 'title' => 'Chữa bệnh dạ dày với bài thuốc từ gian bếp', 'user_id' => '9770', 'text_parsed' => '

Chữa bệnh dạ dày hiện nay không còn quá khó khăn như trước đây, nền y học hiện đại phát triển kèm theo nhiều liệu trình chữa bệnh tiên tiên. Đối với những bệnh nhân đau dạ dày mời phát bệnh bạn hoàn toàn không phải lo lắng, có thể sử dụng ngay những nguyên liệu có trong nhà bạn để chữa bệnh rất hiệu quả, ngay sau đây chúng ta cùng tìm hiểu những mẹo hay chữa đau dạ dày này.

>>Xem thêm: Viem da day co nguy hiem khong

Gừng:

Từ xưa tới nay, gừng là một nguyên liệu luôn có mặt trong nhà bạn, không chỉ là một nguyên liệu làm gia vị, trong đông y gừng được xem như một loại kháng sinh tự nhiên, chữa được rất nhiều bệnh.

Nếu bạn bị đau dạ dày có thể bổ sung thêm gừng vào những món ăn phù hợp, co thể nấu canh gừng hoặc bạn có thể nhâm nhi một tách trà gừng hoặc mứt gừng sẽ nhanh làm giảm những cơn đau dạ dày.

Nước muối ấm:

Được sử dụng làm bài thuốc chữa viêm họng rất hiệu quả, nước muối ấm còn có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh đau dạ dày rất tốt.

Khi có những cơn đau co thắt dạ dày, bạn chỉ cần thêm một thìa muối vào nước ấm. quấy đều và uống hết sẽ làm giảm nhanh chóng những cơn đau dạ dày co thắt.

>>Xem thêm: thuốc trị viêm dạ dày

Giấm táo:

Giấm táo có tác dụng chống viêm và rửa ruột rất tốt, giúp hấp thụ các chất dinh dưỡng và ngăn ngừa chứng khó tiêu hiệu quả.

Bạn cho 1-2 thìa giấm táo vào nước khuấy đều để uống, hoặc bạn có thể bổ sung thêm một chút mật ong. Tuy nhiên với cách này bạn không nên uống quá nhiều để tránh làm tăng axit dạ dày.

Nước ép bạc hà:

Bạc hà có tác dụng kháng viêm, giảm những triệu chứng đau dạ dày có thắt rất tốt.

Có rất nhiều cách làm, bạn có thể nhai 2-3 lá bạc hà cũng có thể giảm những cơn đau hoặc bạn có thể thả một vài nhánh bạc hà vào trà để uống mỗi sáng mai.

Nước chanh:

Với nhiều người khi bị đau dạ dày không uống nước chanh, tuy nhiên thực tế không phải như vây. Nếu trong nhà bạn không có gừng hay bạc hà bạn có thể uống một cốc nước chanh để giảm cơn đau dạ dày.

Tìm hiểu thêm : Viem da day

', 'images' => 'Chữa bệnh dạ dày với bài thuốc từ gian bếp', ), 4 => array ( 'blog_id' => '4976', 'title' => 'Bài dự thi lễ hội văn hóa dân tộc', 'user_id' => '8489', 'text_parsed' => '

Trường: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Họ, tên: Tạ Thị Thùy Linh

Lớp: A-k64

Khoa: Vật lí

 

 


BÀI DỰ THI : “ LỄ HỘI - VĂN HÓA - DÂN TỘC”


 

 

LỄ HỘI ĐỀN HÙNG

 


Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng - quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm ThaoPhù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này.

Đền Hùng được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là khu di tích đặc biệt của quốc gia vào năm 1962. Đến năm 1967, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khoanh vùng xây dựng khu rừng cấm Đền Hùng. Ngày 8 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng lần thứ nhất, tạo tiền đề cho việc đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục trong khu di tích

Ngày 6 tháng 1 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm. Ngày 10 tháng 3 trở thành ngày quốc lễ, ngày giỗ Tổ Hùng Vương.

Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã không ngừng lớn mạnh, được thể hiện sâu sắc và rõ nét hơn qua hàng loạt công trình kiến trúc văn hóa đầu tư xây dựng. Nổi bật nhất là từ sau Quyết định số 84/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng đến năm 2015

Nhiều công trình tiếp tục được xây dựng tại khu di tích Đền Hùng như Đền thờ Lạc Long Quân, đường hành lễ tại trung tâm lễ hội, trụ sở làm việc và nhà tiếp đón khách của khu di tích, đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ...Trước sự phát triển và quy mô ngày càng lớn, đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tương xứng. Ngày 23 tháng 2 năm 2005, UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 525/2005/QĐ-UB về việc nâng cấp Ban quản lý Khu di tích Đền Hùng thuộc Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ thành Khu di tích lịch sử Đền Hùng trực thuộc UBND tỉnh

Ngày 6 tháng 12 năm 2012, UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương chính là thờ Quốc tổ. Đây là hiện tượng văn hóa không phải dân tộc nào cũng có.


 



 

Cổng dẫn lên khu di tích đền Hùng


 

Đền Giếng


 

Đền Hạ


 

Đền Trung


 

Đền Thượng


  1. Đền Hạ: Tương truyền là nơi Âu Cơ... sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con.
  2. Nhà bia: Nhà bia nằm ngay cạnh đền Hạ có kiến trúc hình lục giác với 6 mái. Trong nay đặt tấm bia đá khắc dòng chữ quốc ngữ: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954.
  3. Chùa Thiên Quang: còn gọi là Thiên quang thiền tự, tọa lạc gần đền Hạ.
  4.  
  5. Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầuLạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước.
  6. Đền Thượng: Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền thuyết các Vua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ,tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Ngoài cổng đền có dòng đại tự: "Nam Việt triệu tổ" (tổ tiên của Việt Nam).
  7. Cột đá thề: Bên phía tay trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương.
  8. Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (năm 1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (năm 1922) trùng tu lại.
  9. Đền Giếng: Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và công chúa Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18.
  10. Đền Mẫu Âu Cơ: Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004. Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn)
  11. Đền thờ Lạc Long Quân: Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương Lộc Tục và con gái Động Đình Quân tên là Thần LongLạc Long Quân được xem là vị vua nước Xích Quỷ, trước nhà nước Âu LạcLạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ của dân tộc Việt Nam, gắn liền với truyền thuyết "bọc trăm trứng". Con trai cả của ông là người đã lập ra nước Văn Lang, thống nhất 15 bộ lạc, lấy hiệu là Hùng vương đời thứ nhất. Hiện nay đền thờ Lạc Long Quân nằm tại núi Sim của khu di tích lịch sử Đền Hùng, cách núi Nghĩa Lĩnh (hay còn gọi là núi Hùng) khoảng 1km về phía Đông Nam.

Hành trình của du khách[sửa | sửa mã nguồn]

Khu di tích lịch sử đền Hùng bao gồm bốn đền chính là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng. Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽ qua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kết thúc tại đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ 6.

 

Giỗ Tổ Hùng Vương

Văn học dân gian Việt Nam nói về lễ hội đền Hùng như sau:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Lễ hội đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc. Lễ hội diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng. Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn.

Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:

Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng.

Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương.

Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một hình thức dân ca đặc biệt của Phú Thọ, những cuộc thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy binh luyện chiến.

Từ năm 2001, giỗ tổ Hùng Vương trở thành quốc lễ. Từ ngày 10/3/ 2007 âm lịch hàng năm là ngày nghỉ lễ. Lê hội đền Hùng những năm lẻ sẽ do tỉnhPhú Thọ đứng ra tổ chức. Các năm chẵn sẽ có quy mô ở các cấp trung ương. Lễ hội đền Hùng không chỉ diễn ra ở khu di tích lịch sử đền Hùng Phú Thọ mà sẽ diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước như thành phố Hồ Chí MinhCần ThơĐà Nẵng.v.v.

Theo nghị định 82/2001/NĐ-CP về việc quy ước lễ hội đền Hùng thì:


  • "Năm chẵn" là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là "0",Năm tròn" là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là "5 "; Trung ương, Bộ Văn hoá - thể thao và du lịch cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự lễ dâng hương.
  • "Năm lẻ" là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.
  •  

Trống đồng mang tên Trống Hy Cương được tìm thấy ở xã Hy Cương ngay dưới chân núi Nghĩa Lĩnh ngày 7 tháng 8 năm 1990[5] khi một gia đình người dân đào hố tôi vôi. Trống khá nguyên vẹn, có đường kính mặt 93 cm và chiều cao 70 cm, là trống đồng Đông Sơn có kích thước lớn nhất trong tổng số trống Đông Sơn đã biết ở Việt Nam và Đông Nam Á[6]. Trống có hoa văn trang trí phong phú và cách điệu hóa cao độ, trong đó có các loại hoa văn chủ đạo như hình ngôi sao 12 cánh đường kính đến 20 cm, 8 con chim lạc dài 15 cm bay theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, hình người hóa trang cách điệu chỉ có mắt và lông công, thuyền v.v. Có thể quanh Hy Cương còn nhiều trống đồng chưa được phát hiện ra, nhưng với việc phát hiện trống lớn như một bằng chứng khảo cổ tại chân núi Nghĩa Lĩnh, cho thấy vị trí đặc biệt của Hy Cương và đền Hùng trong lịch sử dân tộc (trống lớn thường thuộc sở hữu của một vị tù trưởng hoặc thủ lĩnh rất lớn), là một trong những minh chứng khẳng định tính lịch sử của huyền thoại các vua Hùng. Trống hiện được lưu giữ trong Bảo tàng Hùng Vương với số đăng ký ĐH 2012 (theo số mới), số cũ là 1549.


 

Sơ đồ danh sách các di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam

 

', 'images' => 'Bài dự thi lễ hội văn hóa dân tộc', ), 5 => array ( 'blog_id' => '885', 'title' => 'TIỂU THUYẾT :RA THÀNH PHỐ -CHƯƠNG 22', 'user_id' => '855', 'text_parsed' => '

 

 

 

 

 

 

 

 

 

         Làng tôi tuy nhỏ, cũng được coi đất làm quan,bố tôi kể,theo lời các cụ, hồi đầu thế kỷ có một thày địa lý Tàu đi qua,từ dưới đò nhìn lên doi đất trồi ra sông,mỏm bắc giống như đầu con rồng,khi xuống đò ông dừng lại ngắm nghía xem xét rồi vào làng gặp các vị bô lão hỏi chuyện lai lịch lập làng. Các bô lão biết là thày địa lý, mời ông ở chơi dò hỏi xem địa thế có long mạch. Họ mời thày ra đình làm cơm rượu đãi khách quý,ông thày địa lý đi xem xét khắp nơi, khi thấy ngôi đền thờ ông Nghè(giờ bị san phẳng trong những năm chống phong kiến),ông ngẫm nghĩ rồi hỏi, hình như ông Nghè có điều gì đó hận dân làng, nên đã yểm bùa và có lời nguyền độc?

        Các bô lão nhìn nhau dò hỏi không biết việc gì,ngôi đền có từ thời nào không ai biết, thờ ông Nghè nào không rõ, vì làng tôi ở ngoài đê, hàng năm nước lũ dâng lên ngập hết nhà cửa. Sổ sách giấy tờ trong gia đình, đền chùa bị nước cuốn trôi hoặc ẩm mục nát, không có giấy tờ ghi chép lai lịch sự tích ngôi đền cùng chủ nhân. Một cụ già gần chín mươi cố nhớ lại hồi nhỏ được ông nội nói,ông chỉ nghe láng máng rằng khi ông Nghè vinh quy bái tổ không hiểu nguyên nhân gì, dân làng không đi đón rước vị tân khoa.Nên ông tức giận nguyền rủa làng này sẽ không bao giờ có người nào đỗ đạt. Từ đó vài trăm năm, dân làng  cho con em theo học chữ thánh hiền nhưng không ai đỗ dù chỉ khóa sinh hay tú tài,Cử nhân Tiến sĩ không bao giờ có. Mãi thời thuộc địa có duy nhất một người đỗ bằng “Đíp nôm” của Pháp. Sau này làm Chủ tịch huyện. Đến chế độ dân chủ nhân dân, con em làng đi học đông bằng cấp cũng chỉ đại học là cao nhất không có ai là Giáo sư Tiến sĩ ?

       Ông thày địa lý nghe chuyện gật gù, có lẽ,rồi ông an ủi các cụ, làng ta đây cũng có đất làm quan, nhưng chỉ đến quan huyện, không do đỗ đạt mà làm quan tắt,năm mươi năm sau sẽ rõ,tuy vậy dân làng không nhờ  vả được gì,còn bị tai tiếng, nhưng cũng là vinh dự hiếm có,có ba vị quan đầu huyện trong nửa thế kỷ. Các vị bô lão dò hỏi nhưng thày chỉ nói thiên cơ không tiết lộ,thời gian sẽ chứng thực, mọi người đều biết xưa nay các thày địa lý đều nửa kín nửa hở nên không hỏi , thày địa lý đứng dậy rũ áo ra đi để lại sự nghi hoặc trong lòng dân làng,có người cho rằng thày nói nhăng nói cuội bịp bợm kiếm ăn, “Hòn đất mà biết nói năng thì thày địa lý hàm răng chẳng còn…”. Nhưng cũng có nhiều người tin,sau này sự thật sáng tỏ ai cũng coi là bậc thánh.

        Dân số ngày càng đông đất đai sản suất thu hẹp dần, không có đất canh tác, người dân phải đi làm thuê làm mướn khắp nơi. Đói rách quanh năm, sự học của con em ngày càng sa sút thấp kém, không nhà nào có điều kiện nuôi thày để dạy con cái. Gia đình nào hiếu học và có tí máu mặt gửi con em vào các làng trong đê theo thày được dăm ba chữ chỉ đủ làm nha lại ở làng xã.

       Việc đi lại khó khăn, kinh tế yếu kém không học hành đến nơi đến chốn,không có điều kiện theo đòi bút nghiên mong có chút danh vọng để võng anh đi trước võng nàng đi sau. Không biết có phải do lời nguyền của ông Nghè hay do đói khổ mà thất học? Không ai tìm hiểu nguyên nhân, chẳng ai còn nhớ lời nguyền rủa. Dân kiếm ăn hàng ngày chưa xong, ai nghĩ ngợi việc cao xa. Nhờ thời thế thay đổi, con em trong làng mới được học hành chữ nghĩa. Song do suy dinh dưỡng nhiều thế hệ, di truyền từ tổ tiên từ nhiều đời nên tố chất con người kém cỏi,việc học hành không đạt kết quả cao chăng?Việc học hành nhiều khi rất căng thẳng, không có sức khỏe, thần kinh tốt sẽ khó kiên trì để có kết quả cao trong thi cử. Do kinh tế khó khăn người ta chỉ lo kiếm kế sinh nhai, không có hoài bão ước mơ sự nghiệp bằng cấp học hàm học vị. Vì thế nó trùng hợp lời nguyền của ông Nghè xưa kia. Nhiều lúc nghĩ ngợi, sao con em làng mình chỉ đến bậc đai học là thôi không vươn cao nữa.Dù bây giờ họ ở khắp mọi miền tổ quốc, không còn đói khát như xưa, nhưng chưa thấy ai có bằng cấp học hàm học vị cao.

       Đôi lúc nghĩ ngợi,nhớ lời nguyền của ông Nghè hơi chột dạ,có khi đúng thế?Vì lời thày địa lý từ đầu thế kỷ đã hiệu nghiệm,sau nửa thế kỷ chế độ mới, làng tôi có ba người làm Chủ tịch huyện, không phải ba ông quan đầu huyện là gì?

        Người thứ nhất là người duy nhất trong làng thời thuộc địa đỗ bằng “Đíp nôm” xuất thân trong gia đình mấy đời hào lý  được đi học, sau cách mạng tháng tám ông đi theo kháng chiến,thời Pháp lập tề ông từng quay giáo, áo the khăn sếp lên bốt Phương Trù nằm theo giặc nhưng không hiểu sao ông quay lại kháng chiến? Vì chỉ có vài người biết sự phản bội của ông nên ông giấu nhẹm,sau này không ảnh hưởng con đường hoạn lộ,vì không ai tố giác,người ta bỏ qua nghĩ ông chưa làm gì có hại cho tổ chức,nhưng cũng làm ông nhiều năm lo lắng,chỉ cần có người tố giác sự nghiệp chính trị của ông mất vì che dấu lý lịch.

       Khi chính quyền nhân dân thành lập do có công lao thành tích lại có bằng cấp, đa số cán bộ lúc bấy giờ mù chữ,ông được cấp trên tín nhiệm cử làm Chủ tịch đầu tiên của huyện,là ông quan huyện đầu tiên của làng tôi. Theo thày địa lý ngày xưa. Một người làm quan cả họ được nhờ.Câu thành ngữ của chế độ phong kiến, khi thời đại đổi thay, thể chế mới vẫn đúng. Ông Chủ Tịch huyện làng tôi nhờ chính quyền mới thành lập, các phòng ban thiếu người,ông lôi kéo  anh em con cháu bè bạn vào cơ quan huyện.

       Lúc bấy giờ việc tuyển dụng không khó khăn phức tạp như sau này,ông muốn đưa ai vào chả được..Người dân còn ấu trĩ, chưa quan tâm,họ mải chăm lo trên miếng đất bao đời mong ước, bao đời đi làm thuê làm mướn, nay được chia ruộng, được cày cấy trên mảnh đất của mình.

      Không ai mơ tưởng làm cán bộ nhà nước.Đa số lại không có chữ nghĩa có mời họ cũng không dám nhận, nhìn vào giấy tờ sổ sách như nhìn bức vách sao dám. Nhờ ông Chủ Tịch làng tôi nhiều người trở thành cán bộ huyện,một số không vào các phòng ban,thì vào cửa hàng thương nghiệp, lương thực thực phẩm bách hóa, trở thành công nhân viên chức ăn lương không phải lao động chân tay bùn.

        Chính quyền làng xã đều do một tay ông cất nhắc bố trí sắp xếp,dưới con mắt người dân ông Chủ tịch như một ông vua con cai trị một vương quốc, một xứ sở,người ta không biết quan tỉnh, Trung ương,họ chỉ biết ông Chủ tịch huyện thỉnh thoảng đi xe ca về làng, vợ con ông vẫn sống ở làng, bà không biết chữ lại sống và làm ruộng ở quê từ nhỏ không vào huyện công tác được, các con ông cũng sống với mẹ ở quê ông phải về thăm vợ con.

        Hồi nhỏ mỗi lần xe ông về quê tôi cùng đám trẻ con chạy theo xe hít bụi và khói sặc sụa nhưng rất thích,chỉ nghe tiếng xe đầu làng là người ta biết ông về, vì không có xe nào khác,bọn trẻ con gọi nhau í ới chạy theo, có đứa bám đuôi trèo lên thích thú.

         Một số cụ già nhớ lời ông thày địa lý ngày xưa lẩm bẩm, tài thật, đúng là thánh, lão ta đoán hậu vận của làng đúng thế. Nhưng lão nói có ba người làm quan huyện,mới có một, không biết nhà ai có diễm phúc nhỉ?Họ đoán mò xem nhà ai may mắn,nhưng đều không hiểu,họ không thể biết vì còn mấy chục năm nữa mới có người thứ hai,họ sao biết,họ có biết nhân cầm độn đoán như ông thày người Tàu. Nhưng họ tin tưởng lắm.

      Sau khi sắp xếp ổn định chính quyền,ông Chủ tịch nghĩ đến việc hưởng thụ,ngôi nhà gỗ lim năm gian do ông nội xây đã to nhất làng nhưng là nhà cổ, để làm nhà thờ, ông muốn xây ngôi nhà kiểu mới hiện đại xứng với địa vị của ông,ông nhờ thiết kế ngôi nhà tám mái hơn hai trăm mét vuông, bốn buồg ngủ một phòng khách rộng thênh thang đủ chứa mấy chục  người. Nhà ông khách khứa nhiều,cán bộ huyện tỉnh về thăm, bà con hàng xóm, những người chịu ơn khắp nơi, ngày lễ tết giỗ chạp thăm viếng.

      Để xây dựng công trình to lớn, lương ông không đủ mua vôi,ông được các hợp tác xã cung cấp gạch ngói vôi cát, vật tư huyện cung cấp xi măng gỗ, sắt thép. Nhân công là xã viên hợp tác xã,họ ăn cơm nhà đi làm, hợp tác ghi công điểm.

       Việc ông Chủ tịch xây nhà gây dư luận xôn xao một dao rồi qua đi,ông xứng đáng ở nhà to đẹp. Chính quyền làng xã do ông sắp đặt, là đệ tử của ông họ lo lắng hơn làm nhà của mình. Ngôi nhà to lớn bề thế của ông Chủ tịch nổi bật uy nghi sừng sững dưới lũy tre xanh, xung quanh toàn nhà tranh vách đất trông rất kệch cỡm. Khách ở xa hỏi thăm nhà ông Chủ tịch, người ta bảo cứ tìm ngôi nhà to nhất làng ,“nhà ông Chủ tịch” thành cụm từ cửa miệng người dân chắc đến tai các cấp lãnh đạo,tiếng lành đồn xa?

     Uy tín ông Chủ tịch ngày càng xuống thấp vì nhiều chuyện tai tiếng,dân làng thấy ông ít về thăm nhà, khách khứa cũng ít dần,một thời gian sau mới biết ông mất chức nhưng không rõ vì sao? Có dư luận ông bị tố cáo lợi dụng chức quyền tham ô công quĩ, áp bức bóc lột nhân dân như bọn cường hào ác bá ngày xưa.

      Cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ra miền Bắc.Máy bay bỏ bom đánh phá các công trình nhà máy xí nghiệp, trường học bệnh viện.Không biết có phải từ trên cao nhìn thấy ngôi nhà ông Chủ tịch tưởng công trình quan trọng nên thả bom phá sập? Dân làng được một phen hoảng sợ, rất may không có thương vong về người, vợ con ông thường ở ngôi nhà cũ nên thoát chết. Vài tuần sau ngôi nhà được dỡ chỉ còn lại các bức tường như một công trình hoang phế. Cỏ dại mọc um tùm, chó làng hàng ngày đến ỉa, cóc nhái rắn rết, chuột bọ làm tổ. Bãi biển thành nương dâu trong chớp mắt. Ngôi nhà xưa to lớn bề thế hùng dũng bỗng  hoang tàn như phế tích  của một vương triều suy thoái.

       Thời gian nhấn chìm mọi thứ, công danh, quyền lực, tiền tài, địa vị trôi  theo năm tháng,có gì vĩnh cửu? Mấy năm sau, các bức tường cũng đổ nát hết chỉ còn lại mô nền, dấu tích công trình phủ bụi bởi thời gian.

          “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo

          Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…”

        Người dân đi qua dừng lại như tiếc nuối ngôi nhà to đẹp thế,giờ chỉ còn trong ký ức phai mờ của người đời,một thời oanh liệt vàng son chói lọi,nay còn đâu? Con tạo xoay vần, thói đời lòng người xưa nay vẫn thế , phù thịnh không phù suy, dù thời thế, thế nào cũng thế .Rất lâu sau này một số người làng mới biết ông Chủ tịch thất thế bị điều đi làm chuyên viên gì đó trên Trung ương,ông về quê không có xe đưa đón phải đạp xe mấy chục cây số, không thấy ai vồ vập săn đón mời chào như ngày xưa thời oanh liệt, ông cũng biết thân phận thường cắm cúi đạp không nhìn ai. Đến khi ông về hưu sống ở làng, như một nông dân, suốt ngày cặm cụi với mảnh vườn, ít khi ra khỏi nhà.

           Mấy thế hệ sau, nhiều người không biết ông từng vang bóng một thời, một Chủ tịch huyện thét ra lửa, quyền uy lừng lẫy làng trên xóm dưới.Trong những đám cỗ ở làng khi ông ngồi cùng mấy ông nông dân không ai nhận ra bóng dáng ông Chủ tịch ngày xưa, một thời năng nổ và hách dịch,những người từng biết ông, tò mò nhìn xem có gì khác người nông dân chân lấm tay bùn,họ không thấy nét khác thường,thì ra “Hòn đất nặn ông bụt”?...

        Có lần tôi thấy ông có vẻ đăm chiêu, có tâm sự thầm kín dù ông cố che dấu, tỏ ra vui vẻ trước mặt mọi người, nhưng trong sâu thẳm cõi lòng có điều nuối tiếc thời quá khứ xa xăm, nhưng phải tinh mới thấy. Lúc ông đương chức tôi còn nhỏ chỉ được chiêm ngưỡng từ xa,trong con mắt tôi hồi đó ông oai phong lẫm liệt, có tướng quân sự lắm. Bản thân ông là sĩ quan quân đội, dáng người cao to, mặt mũi gân guốc, da đen sạm có chút phong trần, cặp mắt mở to linh lợi vẻ tàn nhẫn của người biết mình nắm trong tay vận mệnh nhiều người.Biết xung quanh có nhiều người bợ đỡ xu phụ. Khi ông về hưu, lưng gù xuống do tuổi tác, gánh nặng thời gian đè lên đôi vai bao năm giữ trọng trách, không còn vẻ oai phong lẫm liệt như xưa. Nét mặt đờ đẫn không linh hoạt, cặp mắt hơi cúp xuống khi nhìn, không  vẻ linh lợi. Ánh mắt không còn vẻ tàn nhẫn mà u buồn,so với con người trước kia không ăn nhập với con người đang ngồi thu lu co lại trước đám đông,thời gian tàn phá khủng khiếp!

       Nhất là người có quyền lực địa vị nay đã mất, họ biết thế của họ khác xưa nhiều quá, biết rõ bản thân đã rơi từ trên đỉnh cao quyền lực xuống tận đáy,đứng tầng nấc thấp nhất trên con đường danh vọng của đời  người,người khác có thể không cảm nhận thấy nếu không biết quãng đời trước kia của họ. Lúc họ đang ở đỉnh cao quyền lực và danh vọng,dù có thể không xứng với tài năng, năng lực thực sự của họ,vì nhiều người có được những thứ đó,không dựa vào thực lực tài năng mà bằng những thủ đoạn bỉ ổi, những mưu mô xảo quyệt tàn nhẫn,đạp lên đầu người khác  tiến lên; biết khéo léo che đậy dã tâm, mánh khóe dục vọng thấp hèn bằng những ngôn từ đẹp đẽ bóng bẩy khoa trương hào nhoáng bên ngoài; biết tranh công đổ lỗi, đánh bóng tên tuổi, biết tiến thoái theo hoàn cảnh thời thế. Lợi dụng lòng tin của người khác từng bước leo lên vị trí ngày càng cao.

        Dưới chế độ phong kiến, quan lại khi nghỉ hưu vẫn có một địa vị danh vọng quyền lực nhất định, mặc nhiên được xã hội thừa nhận, luật pháp triều đình tôn trọng và bảo vệ, không ai dám xâm phạm coi thường.

        Ở chế độ dân chủ nhân dân khi về hưu không còn địa vị quyền lực,thường hẫng hụt lo lắng,cảm thấy bị mất mát nhiều thứ,nếu lúc

đương chức là hạng quan liêu hống hách,tệ hại hơn nhiều. Họ bị dân chúng coi thường phỉ nhổ,họ sống trong tâm trạng hoang mang lo lắng, tù túng mặc cảm. Sống những năm tháng còn lại vô vị chán nản của đời người,họ một mình một bóng không bè bạn thân thiết,đệ tử rời xa hết.

       Đôi khi bực tức uất hận sự đối xử tệ bạc của người đời không hiểu nguyên do vì sao?Họ chửi đời bất công chó má, lòng người thay đổi,chửi quan lại đương thời không nhớ đến công lao của họ,bọn ăn cháo đá bát,chúng được họ nâng đỡ cất nhắc,khi  thất thế chúng quay mặt hết.

       Những năm cuối đời, ông Chủ tịch đầu tiên của làng tôi sống trong tâm trạng như thế, ông ít ra ngoài giao du,ông thường ngồi bó gối trên chiếc trường kỷ, hai tay ôm ấm nước, nhâm nhi nhấm nháp từng chén trà lúc nóng lúc nguội,thẩn thơ đi lại trong nhà trong sân,có lúc ra đầu ngõ đứng nhìn vẩn vơ thấy bóng người đi qua vội quay vào vẻ nghĩ ngợi mông lung suy tư như nhà triết học lỗi thời.

      Hàng ngày đến bữa vợ con mang cơm,ông có thói quen không ngồi cùng mâm với kẻ dưới,ông không đồng ngang hàng cót với họ,nhưng chỉ còn giữ nề nếp ấy trong nhà,đó là điều ông cảm thấy khó chịu,ông phải nhẫn nhục chịu đựng, không ai coi ông là bề trên của họ nữa.

     Người ta coi ông ngang hàng là tốt, có ông cán bộ về hưu khi đi đình đám người ta còn không muốn ngồi cùng,có người giơ tay bắt họ rụt tay lại, ngoảnh mặt đi,sao người đời nhẫn tâm ? Sao không có chút lịch sự tối thiểu nhỉ? Đời người lên voi xuống chó là lẽ thường, có gì ghê gớm,con người ta ai chẳng có lúc thế này thế khác,sao lại đối xử với con người như vậy?Thế là không có văn hóa,nhưng có nên trách họ, phải có nguyên nhân con người mới xử sự như vậy.

      Con người cần có lòng bao dung độ lượng,nhưng cũng tùy người: “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy…”. Người ta lý sự thế.Tôi nghe kể chuyện có lần ông Chủ tịch chửi mắng thậm tệ một cấp dưới: Người ta lôi anh từ vũng bùn lên, tắm rửa cho sạch sẽ, mặc quần áo cho thành người,không biết nhục lại còn...vì anh ta làm ông phật ý vì một việc cỏn con nào đó,không biết sau khi về hưu ông có gặp anh kia lần nào?

     Thái độ của họ với nhau ra sao, tôi cứ phỏng đoán không hiểu nếu có tình huống ấy xảy ra thì thế nào nhỉ? Khi bị người khác làm nhục con người thù hận ghê lắm, có dịp họ sẽ trả thù.Tôi mong  họ đừng bao giờ gặp nhau kẻo xảy ra bi hài kịch.

      Tôi còn nghe khi đang ở đỉnh cao quyền lực ông trả thù hai ông cán bộ xã có hiềm khích với gia đình ông,một người bị người nhà ông làm nhục đã chờ cơ hội rửa hận. Chắc còn nhiều chuyện tôi không biết hết về ông Chủ tịch đầu tiên của làng,ông quan huyện như lời tiên đoán của ông thày địa lý cách đây một thế kỷ,tài thật.

        Trăm năm chỉ là một khoảnh khắc của vũ trụ nhưng là quãng thời gian dài của nhân loại và đời người,biết bao sự đổi thay thăng trầm của thời cuộc và cuộc sống trong cõi nhân gian đầy bí hiểm bất trắc không lường hết.

      Ngẫm nghĩ lời thày địa lý thấy có phần đúng. Ông quan huyện, ngày xưa gọi là Tri huyện, ngang chức Chủ tịch huyện ngày nay,đã đem lại chút vinh dự cho làng. Nhưng tai tiếng nhiều hơn danh tiếng, và không giúp được gì cho dân làng. Ông không làm được một việc gì cho dân làng. Ngoài việc giúp con cháu ông và cánh vế có chỗ ngồi trong các cơ quan huyện,dân làng không nhờ vả được việc gì?

 

                                                                                           *        *        *

 

          Gần ba mươi năm sau, làng tôi có người thứ hai làm Chủ tịch huyện,và bóng dáng người thứ ba hình thành,người ta bàn tán không ngớt lời ông thày địa lý, họ khen giỏi thật! Mọi người nói nếu ông ta còn sống phải tìm bằng được nhờ ông giải lời nguyền của ông Nghè để làng tôi có người đỗ đạt cao, nhiều người tiếc nuối thắc mắc sao lúc đó các bô lão không nhờ thày giúp để làng tôi bao nhiêu thế hệ phải sống trong tối tăm  ngu dốt?

       Ông Chủ tịch thứ hai của làng tôi xuất thân kỹ sư nông nghiệp. Mười năm công tác vẫn chỉ là anh nhân viên quèn của Phòng Nông nghiệp huyện vào thời kỳ đất nước trì trệ, kinh tế không phát triển hàng hóa khan hiếm, mọi thứ đều bao cấp theo chế độ tem phiếu. Vợ con làm nông nghiệp nơi làng quê nghèo nàn lạc hậu. Lương kỹ sư phải dành hết mua lương thực nuôi cả nhà, ông kỹ sư hàng ngày đạp chiếc xe tòng tọc vào cơ quan làm việc,buổi trưa ăn qua quýt cho xong bữa, tối về với vợ con. Cuộc sống đạm bạc nhếch nhác, quần áo bạc thếch, mặt mũi nhem nhuốc không có dáng dấp ông Chủ tịch tương lai?

       Với vốn liếng học trên trường Đại học Nông nghiệp ông áp dụng vào miếng đất năm phần trăm của gia đình trồng khoai tây cà chua để tăng thu nhập cho vợ con,nhưng chả biết kỹ thuật trồng trọt của ông kỹ sư thế nào?Cà chua khoai tây của ông năng suất thua mấy ông nông dân có kinh nghiệm thực tế, thành ra kỹ sư không bằng nông dân mù chữ.

        Dân làng không ai coi trọng tấm bằng kỹ sư của ông, có người nói đùa hay bằng giả? Vợ con eo xèo,đời sống gia đình khó khăn thiếu thốn quá. Kỹ sư không bằng cánh thợ xây họ hái ra tiền,hay bỏ về  theo họ còn hơn. Ông kỹ sư nhẫn nhục chịu đựng sự chê bai của dân làng,sự sỉ vả của vợ con vì biết không làm được gì.Thời thế nó thế, biết làm thế nào?

      Những năm tháng khó khăn nhiều người bỏ việc nhà nước, chạy hưu non, về mất sức, chạy chợ kiếm ăn,có người không biết buôn bán vỡ nợ,muốn quay trở lại không được.Ông kỹ sư không chức quyền, bổng lộc không đến,không ai biếu xén. Kỹ sư không làm lợi cho hợp tác xã hay cá nhân người ta phải cầu cạnh, hối lộ. Ông không có khoản thu nhập nào khác ngoài đồng lương quá ít ỏi để gánh vác một gia đình gồm bố mẹ gìa hai vợ chồng mấy đứa con gần chục cái tàu há mồm,không chết đói là may,còn nghĩ cao sa.Khi người ta bụng rỗng, não không linh hoạt và năng động do thiếu máu, mặt mày xây xẩm choáng váng. Ông kỹ sư có lúc nghĩ hay bỏ về theo cánh thợ xây,nhưng tiếc vì bao năm đèn sách,mười năm theo đuổi sự nghiệp,bỏ ra ngoài chắc gì sống được.Từ nhỏ đi học, ra trường công tác ngồi bàn giấy thỉnh thoảng xuống hợp tác ngó xem  bà con làm việc, có mó tay  việc gì,cơ thể lười biếng quen, sao chịu được công việc nặng nhọc.

    Kỹ sư nông nghiệp ra ngoài không làm được việc gì,nhất là lại chuyên ngành trồng trọt, nếu là thú y biết tiêm chó, tiêm lợn, thiến gà,khoa cơ khí có thể mở xưởng sửa chữa máy móc,trồng trọt làm được gì, trông cà chua khoai tây kém nông dân,thế thì làm gì?

      Đi buôn không có vốn và cũng không biết buôn bán ra sao. Buôn bán phải có năng khiếu và kinh nghiệm,có phải ai cũng buôn bán được.

       Theo cánh thợ xây xách vôi vữa cho thợ cả, từ nhỏ có cầm dao bao giờ, làm sao xây,có tuổi rồi phải chịu sai bảo của đám trẻ con,sao chịu nổi. Ông kỹ sư thấy bế tắc,đành nhẫn nhục chịu đựng chờ thời, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của anh công chức sớm vác ô đi tối vác ô về, còn được mấy chục ngàn đồng và chế độ tem phiếu bao cấp,tiết kiệm là quốc sách, không rượu chè nghiện ngập, chỉ dám hút thuốc lào và nhai trầu, những thứ không tốn tiền lại dễ mua.

      Chính quyền làng xã thấy ông kỹ sư không hữu ích cho việc làm ăn của họ không chơi bời thăm hỏi đi lại,họ nhìn ông như củ khoai củ ráy như chĩnh đất vứt bụi tre. Ông biết họ nhìn ông với ánh mắt coi thường dè bỉu,kỹ sư gì như nông dân chân đất mắt toét,quan có hình tướng có dạng.Bạn bè không đến, đồng ngũ đồng môn không hỏi,nhà lúc nào cũng vắng  như chùa bà Đanh,ông thui thủi một mình sáng đi tối về, ngoài đường cắm cúi mải miết đạp,không nhìn ai biết ai .Ngày nghỉ chỉ quanh quẩn ở nhà, không đến nhà ai, chơi bời với ai.Giúp vợ con vài việc lặt vặt,đôi khi sắn quần lội ao vớt bèo cho vợ nuôi lợn,kiếm củi quét lá.

        Mười năm sống trong nghèo khổ đói rách,ông suy ngẫm rút ra bài học,phải có chức quyền mới mở mày mở mặt ngẩng đầu lên được,nếu không sẽ chết già trong cảnh khốn cùng,chế độ hợp tác xã không cần chuyên môn của kỹ sư nông nghiệp,công việc trồng trọt người dân bao đời làm theo kinh nghiệm. Họ đâu cần liến thức của kỹ sư mới biết trồng lúa trồng khoai .Cùng lắm mua cuốn sách là có đầy đủ hướng dẫn việc trồng cây, nuôi con,cần gì kỹ sư.

        Ông Chủ tịch tương lai biết nếu chỉ làm chuyên môn không thể tiến lên con đường danh lợi,phải làm chính trị mới có cơ hội,ông nhẩm tính, âm thầm quan sát các nhà lãnh đạo, các chính khách địa phương. Mục tiêu của ông ở cấp địa phương,ông biêt cấp trung ương không thể với tới.

       Ông để ý cách đối nhân xử thế cách tiến thân của họ,ông nhận thấy đa số không có kiến thức chuyên môn,cơ chế này không cần kiến thức chuyên môn,chỉ cần bằng cấp để hợp lý hóa theo tiêu chuẩn quy định,cán bộ chuyên môn nhiều khi chỉ là đầu sai cho kẻ có quyền.

       Ông biết muốn làm chính trị phải có bè cánh phe phái,“Quân tải có bè”,một thân một mình không làm nên chuyện,dù tài giỏi mấy,phải có người dìu dắt nâng đỡ. Quyền lực không tự đến,cũng như tiền bạc không tự chảy vào túi,muốn làm lãnh đạo phải có người túm tóc kéo lên, phải được cấp trên tin tưởng, cấp dưới ủng hộ. Sau khi quan sát nghiền ngẫm, suy tính ông bắt tay thực hiện từng bước, ngấm ngầm thực hiện kế hoạch,ông ẩn mình nhẫn nhục chờ đợi thời cơ. Ông tiếp cận kết thân với những người đang có thế lực vây cánh,ông thăm dò tìm kiếm thông tin về kế hoạnh sắp xếp nhân sự các khóa tới,trước đây hết giờ làm việc ông về nhà ngay để giúp đỡ vợ con,giờ ông ở lại lân la thăm hỏi trò chuyện với mọi người,ngày trước buổi trưa ông ngủ vùi, giờ ông lang thang các phòng ban quán nước để ý nghe ngóng dân tình bàn tán,ông thu thập thông tin như tình báo. Ông nghe được nhiều chuyện hậu trường chính trị, chuyện thâm cung bí sử,ông để ý thấy cứ sắp đến kỳ đại hội, dân tình ngoài phố, trong các cơ quan thì thào bàn tán về sắp xếp nhân sự,ai ngồi ghế nào. Ghế nào chưa có người, các phe phái tranh giành nhau, chia chác nhau,mười năm phấn đấu không bằng một lần cơ cấu,người ta nói với nhau thế,có người được hứa hẹn vào cấp ủy mấy lần vẫn chưa được. Suy tính nghiền ngẫm, hoạch định kế sách chiến lược,ông tìm cách kết thân với ông Chủ tịch huyện đương nhiệm, vốn là kỹ sư nông nghiệp như ông,ông dò biết cấp trên đang có chủ trương sắp xếp những người có chuyên môn lãnh đạo các phòng ban, các chức vụ chủ chốt.

     Đôi tai ông giờ rất thính nhậy, đôi mắt tinh nhanh luôn liếc ngang liếc dọc quan sát,những người ít tuổi hơn có chức quyền ông xưng em ngọt sớt,ông ve vãn lấy lòng họ, dù trước kia ông căm ghét. Giờ ông luôn tỏ ra nhũn nhặn sởi lởi, gặp ai cũng mỉm cười chào hỏi từ xa, bắt tay rối rít dù không quan hệ thân thiết. Con người ông có sự thay đổi chuyển động. Trong các hội nghị cuộc họp ông chưa phát biểu khi chưa đón ý lãnh đạo muốn gì? Ông nói năng nhỏ nhẹ ẩn ý đa nghĩa không thẳng thắn bộc trực như trước,không hùng hồn như trước,ông biết ép mình theo người khác, luôn đứng về phía lãng đạo, phía có quyền lực.

      Mọi trù tính sắp đặt của ông bước đầu có kết quả,từ một người mười năm giẫm chân tại chỗ ông được đề bạt Phó phòng,ông bước lên nấc thang đầu tiên trên con đường danh vọng quyền lực.Trên con đường hoạn lộ,nấc thang đầu tiên rất quan trọng.Nếu anh không bước vào được sẽ không bao giờ có cơ hội thăng tiến.

        Khi bước được vào, các bước sau sẽ dễ dàng hơn do cơ chế,vì đã tìm ra đường đi không phải mò mẫm như trước,chỉ cần có thủ đoạn, dã tâm, hoài bão,sẽ tuần tự nhi tiến,đến hẹn lại lên như đến kỳ thì tăng lương.Tất nhiên phải đủ các điều kiện tiêu chí phù hợp, nếu chưa đủ thì tạo ra tìm kiếm làm cho phù hợp,thiếu gì cách hợp lý hóa. Phải năng động tìm tòi mọi cái không tự đến,phải biết chuyển tiền người khác sang túi mình,khi cần lại phải biết chuyển tiền từ túi mình sang túi người khác, hợp pháp và không hợp pháp.

      Địa vị, danh vọng, tiền bạc đều không tự nhiên trên trời rơi xuống và nó cũng không bất biến,nó chuyển động,phải tìm cách làm nó chuyển động có lợi cho mình. Sau bao năm suy nghĩ nghiền ngẫm ông Chủ tịch tương lai làng tôi  rút ra nhiều bài học bổ ích trên con đường tìm kiếm danh vọng,  quyền lực. Ông biết có người luôn tìm cách làm con nuôi kẻ có thế lực. Kể cả kiểu bố con như Lư Kỷ, Hoàng Tung trong truyện Nhị Độ Mai,bố nuôi chỉ hơn con mấy tuổi. Người đời sao đê tiện thế!

      Từ ngày có chức vụ  ông thấy mọi người nhìn ông với con mắt khác,làng xóm vì nể, cán bộ làng xã không thờ ơ như trước, gặp ông mỉm cười chào hỏi. Nhà ông không im ắng, có người qua lại khách khứa đến thăm. Ở nhà ông không làm việc vặt giúp đỡ vợ con,gía trị con người được nâng lên từ cái ghế ngồi.

         Sau mười năm chân trắng, đói rách nghèo khổ,gia đình ông bắt đầu phát triển,con đường hoạn lộ của ông  như quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, ông lên chức Trưởng phòng rồi Phó Chủ tịch huyện trong vòng mười năm. Mười năm qua sao ông thấy nhanh thế, cũng thời gian mười năm trước dài dằng dặc, mười năm sau như chớp mắt. Mười năm bước vào con đường danh vọng, biết bao sự đổi thay của xã hội cuộc sống đời người. Gia đình ông chuyển từ làng quê lên phố huyện. Vợ ông không còn chân lấm tay bùn, chỉ ở nhà cơm nước cho chồng con,nhà cửa ông giờ khang trang đẹp đẽ, đồ đạc sáng loáng, tiện nghi đắt tiền sang trọng.

         Ông đàng hoàng ngồi ghế Chủ tịch huyện sau kỳ đại hội với tư thế bệ vệ đĩnh đạc, mặt mũi bóng loáng nung núc những thịt. Ông về làng đi ô tô con đen bóng, máy chạy êm du không như chiếc xe ca  máy tậm tịt của ông Chủ tịch ngày xưa,trẻ con cũng không chạy theo xe nữa. Vì ô tô không lạ với mọi người, trong làng ô tô chạy rầm rập suốt ngày.

         Những người già cả lại suốt ngày bàn tán về lời ông thày địa lý cách đây gần thế kỷ, tài thật,đúng là bậc thánh. Làng mình có hai ông quan đầu huyện(Tri huyện ngày xưa), ông quan thứ ba đang lấp ló.

         Ông Chủ tịch thứ hai làng tôi không có ý định xây nhà ở quê như ông Chủ tịch trước, ông có nhiều nhà đất trên phố huyện,vào thời kỳ phong trào “đường, trường, trạm” ở nông thôn,chính sách đổi đất lấy hạ tầng,các làng quê chính quyền làng xã đua nhau bán đất của dân,bán tài sản hợp tác xã do chia đất cho dân không làm ăn tập thể và giãn dân vì trong làng chật hẹp. Họ dùng mọi thủ đoạn mánh khóe để xà xẻo miếng bánh chung của tập thể,không phải cha chung không ai khóc mà của chung không ai bỏ,những người có chức quyền chia nhau những chỗ béo bở, địa thế đắc lợi.

       Người dân được mua đất cho con cái làm nhà ra ở riêng,nhiều nhà có đến năm sáu cặp vợ chồng nên chật chội,dọc các trục đường thời hợp tác thường bỏ hoang,rồi đào lấy đất đắp đường,dân đào trộm đổ nền, làm gạch,biến đất nông nghiệp thành ao hồ thùng vũng. Chính quyền địa phương báo cáo lên trên đề nghị xét duyệt bán cho dân làm nhà. Họ thường gian dối khai báo cả đất nông nghiệp đễ cắt bán kiếm lời,dựa gió bẻ măng, nhiều vùng đất canh tác bị xà xẻo,được cấp trên gợi ý làm tờ trình lên cấp có thẩm quyền xét duyệt giao đất, cấp trên ngồi trên cao sao nhìn thấy hết mọi miền quê hẻo lánh xa tỉnh xa huyện, bị họ bịt mắt,tất nhiên có mầu, dù nhìn thấy vẫn nhắm mắt làm ngơ. 

        Họ phù phép, đất trồng lúa hai bên đường thành ao hố thùng vũng,dân mất ruộng đất, tiền đền bù chẳng đáng là bao,cấp trên duyệt một họ bán hai,họ học tập nhau,làng quê nào cũng bán đất,họ lợi dụng danh nghĩa này nọ,người dân kiện cáo thì bị đè nén ức hiếp,cấp trên há miệng mắc quai,đơn từ lòng vòng các cấp đẩy cho nhau,dân làm nhà trên đất nông nghiệp ai nỡ phá,không đuổi người ta ra đường được. Chính sách nhân đạo, chính sách xã hội bị lợi dụng để che chắn tội lỗi của bọn cường hào mới nổi lên khắp nơi nhung nhúc như giòi bọ.

       Địa phương nào cũng thế thành hòa cả làng,dù không đúng đường lối chính sách pháp luật,thì phải sửa cho phù hợp với thực tế cuộc sống muôn màu muôn vẻ, “Lý luận xám ngoét, cây đời thực tiễn mới xanh tươi ?”

       Cấp trên lại gợi ý làm tờ trình hợp pháp hóa,lo cho quyền lợi của dân là tốt, là nhân đạo,thể hiện tư tưởng tuyệt vời, hợp lòng dân,có khi phải tuyên dương khen ngợi,các cấp chính quyền biết lo cho dân có nhà cửa nơi ăn chốn ở, cơm ăn áo mặc,đó là mục tiêu cao cả của chế độ XHCN tốt đẹp,một chế độ dân chủ hơn triệu lần CNTB ?

       Nhưng để được nhanh chóng làm thủ tục phải có đi có lại,phải lót tay bằng vàng, Đô la, bằng đất,chính quyền thì nhiều người, ông được, tôi cũng phải có,dân được lợi, người có chức quyền ngồi nhìn người ta sung sướng. Thế coi sao được.Phải đồng cam cộng khổ chứ, thế mới công bằng dân chủ . Cán bộ làng xã còn được hưởng lộc, cấp huyện, tỉnh ngồi xuông. Ngồi nhìn cấp dưới hưởng lợi coi sao được. Người ta chửi cho là ngu đần .Ai lại thế, họa có thần kinh tâm thần mới thế.

        Người ta thì thào rỉ tai làng nọ bảo làng kia, xã nọ bảo xã kia phải thế. Phải thế mới xong.  Họ bóng gió với nhau, ăn cả không xong đâu, phải nhả ra, lộc bất tận hưởng, tham như chó sao được việc. Chúng nó làm được mình chịu à,cũng là người như nhau sao lại ngu thế!Thế là nơi nào cũng “đi đêm”,chỉ khổ lãnh đạo. Bây giờ các quan đều tuổi “Sửu” cả không ai dại cầm tinh con chuột? Để thì giàu chia nhau thì khó.

        Ông Chủ tịch huyện ngồi trên vơ vét không biết bao nhiêu mà kể. Người ta đồn ông có mấy chục suất đất khắp huyện, nhưng chỉ là dư luận lời đồn, chứng cứ giấy tờ sổ sách không có tên ông.

       Do việc chia chác không đều, dân người có người không, thắc mắc kiện cáo khắp nơi .Cấp trên tổng kết bảy mươi phần trăm các vụ kiện cáo liên can đất đai. Không làm sao giải quyết nổi.Đơn từ lòng vòng lên tỉnh xuống huyện như đèn cù, như mối bòng bong không sao gỡ hết.

    Trăm năm cũng chưa giải quyết hết, gỡ hết? Vì nhiều nơi cố tình giải quyết sai, giải quyết qua loa, chiếu lệ, họ đổ tại cơ chế chính sách không giải quyết được, không làm sao vừa lòng dân.

      Các tòa án thì xử kiểu: Mày cũng phải nhưng thằng kia nó phải bằng hai mày? Nhiều người theo đuổi mãi chồn chân mỏi gối tốn tiền bạc,đành bỏ cuộc,thấp cổ bé họng  sao  đối chọi với quan tòa mặt sắt! Để lâu phân trâu hóa bùn, rồi đánh bùn sang ao. Việc to biến thành nhỏ, nhỏ biến thành không có gì.

        Ông Chủ tịch thứ hai của làng tôi gặp may mắn có thiên thời, địa lợi, nhân hòa, sinh đúng thời, ngồi đúng chỗ, giàu sang có số,“Tiền vào như nước sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin?”Ông tích lũy nhiều của cải, nhà cửa khắp nơi, mấy năm sau ông được thăng cấp tỉnh cũng nhờ dịp may mắn hiếm có,do phong trào đòi tách tỉnh xảy ra rầm rộ khắp nơi.Tỉnh tôi cũng thuộc diện được tách ra từ một tỉnh lớn. Các cơ quan tỉnh mới thành lập, cán bộ Sở, Phòng, Ban thiếu nhiều, nhờ thế nhiều người gặp may, cơ hội ngàn năm có một. Từ nhân viên quèn nhảy ngay lên có địa vị chức quyền không hiếm, bình thường phải qua vài chục năm phấn đấu gian khổ,nay nhảy một phát lên đỉnh cao quyền lực,gặp thời hòn đất thó nặn ông Bụt?

       Ông Chủ tịch làng tôi từ làng quê lên huyện, lên tỉnh, đất đai nhà cửa chỗ nào cũng có. Địa chủ thời giảm tô cải cách chỉ có vài mẫu đất trồng ngô bị quy  bóc lột nhân dân bị bắn chết so với ông Chủ tịch chỉ là con rận bò trên lưng con trâu!

      Ông Chủ tịch này biết quan tâm đến bà con dân làng,ông biết làng tôi quanh năm thiếu nước tưới cây trồng; ông lợi dụng địa vị của mình co kéo một dự án kiên cố hóa kênh mương cho làng.

 

 

                                                                                                   *        *        *

 

      Những năm sáu mươi làng tôi được các cấp quan tâm cho đào mương, xây cống  để dẫn nước sông qua con đê quai nhưng chỉ được vài năm, sau không biết do cống hỏng hay mực nước sông xuống thấp xa cống nên không chảy vào mương.Thành ra con mương chỉ sử dụng hứng nước mưa từ trên trời rơi xuống, vết tích công trình vẫn còn nhưng giờ chỉ là con mương cạn quanh năm không có nước, cống bị bít kín từ lâu.

       Sau mấy năm có dự án đắp máng nổi, xây trạm bơm đầu nguồn để bơm nước từ sông vào máng,máng đắp xong từ lâu, tốn bao công sức bà con xã viên nhưng trạm bơm mãi chưa xây xong, vì cứ ban ngày đào đất xúc cát xây bể, sáng ra cát lại đùn đầy bể, làm mãi không xong đành bỏ. Con máng nổi hiên ngang hùng dũng trần mình phơi mưa nắng, chiếm biết bao diện tích canh tác, bao công sức người dân đi đắp máng,con máng dài mấy  cây số thành chỗ gà chó lợn, người thải chất thừa, nơi trẻ con chăn trâu bò,lâu ngày cỏ dại mọc um tùm lại để hứng nước mưa từ trên trời, không phải nước từ dưới sông.

     Một thời gian sau thấy con máng nằm chềnh ềnh không có tác dụng lại huy động bà con xã viên gánh đất san lấp, tốn không biết bao công của. Hai lần nhà nước mất tiền của, nhân dân mất công sức hơn chục năm làng tôi vẫn không có nước, đồng ruộng khô hạn nứt nẻ. Việc giải quyết nước tưới cho làng tôi không thực hiện được, đồng ruộng khô cháy, năng suất cây trồng thấp, người dân đói khổ phải đi làm thuê làm mướn khắp nơi. Khi có phong trào kiên cố hóa kênh mương, nhiệm kỳ ông Chủ tịch làng tôi sắp hết, ông cố kéo được một dự án mang ơn huệ lại cho làng, ơn mưa móc của bề trên tới dân chúng. Con trai ông đứng ra bao thầu công trình, có sự giám sát kiểm tra đôn đốc của phòng nông nghiệp, phòng thủy lợi huyện. Thời kỳ hiện đại máy móc cơ giới hóa không phải làm thủ công như hồi đắp máng nổi, chỉ có cuốc xẻng quang gánh và sức người, vài năm mới đắp xong. Bây giờ dùng vật liệu xây dựng, máy móc sẵn thi công toàn cơ giới nên con mương bằng gạch và bê tông nhanh chóng hoàn thành. Công trình nghiệm thu xong cho vận hành thử,nước chảy ngược?!

     Ông Chủ tịch thăng cấp lên tỉnh, con ông đi làm cơ quan,con mương kiên cố bỏ đó giống như hai công trình trước, dân làng vẫn không có nước tưới ruộng. Người ta lắc đầu ngao ngán, tiền tỉ vứt xuống sông xuống biển, không ai xót tiền dân!

     Dân làng gọi là con "mương ông Chủ tịch" .Thỉnh thoảng về làng đi qua con mương không biết ông có cảm xúc suy nghĩ!?

Người dân nói mãi cũng chán, những người già cả chết đi, chính quyền đổi thay, nhưng con mương chảy ngược năm chình ình. Không may cho ai đi đêm (vì nó xây cạnh con đường) sa chân gãy tay vỡ đầu mẻ chán, trẻ con sa xuống có thể chết tươi.

        Nhiều đoạn ít xi măng nên vỡ bung ra lấp kín lòng mương, cỏ dại mọc um tùm lại là nơi cho rắn rết ếch nhái trú ẩn.Không biết bố con ông Chủ tịch kiếm chác được bao nhiêu trong vụ này?Sau khi hoàn thành công trình thế kỷ vĩ đại nhất làng tôi từ cổ chí kim do ông Chủ tịch mang lại ơn huệ cho dân làng,vì một người làm quan cả làng được nhờ. Con ông Chủ tịch mua xe ô tô con chạy khắp nơi.

       Ba công trình tưới nước cho làng tôi thất bại, nhưng không có ai làm sao, không ai ngã hay mẻ đầu sứt trán, gãy chân gãy tay,đó là sự may mắn phúc đức,từ đó không ai còn nghĩ đến việc tưới nước nữa,đồng ruộng chuyển sang trồng cây ít cần nước, quá tam ba bận, đủ rút ra bài học.

 

  

        Ông Chủ tịch huyện thứ ba làng tôi kế nhiệm khi ông Chủ tịch thứ hai lên tỉnh, những người biết câu chuyện thày địa lý năm xưa vô cùng sửng sốt,lời tiên đoán sau một thế kỷ hoàn toàn thành sự thật,nhưng do mải làm ăn buôn bán không ai để ý lắm,không biết ý trời hay sự trùng hợp ngẫu nhiên?  Những người duy tâm thì tin tưởng tuyệt đối,những người có học hành như chúng tôi học tập chủ nghĩa Mac- Lê Nin, có tư tưởng chống mê tín dị đoan, hoang mang, nghi hoặc, nói dân làng bịa ra, làm gì có chuyện trúng thế?

        Nhưng họ nói nếu bịa từ lần ông Chủ tịch đầu tiên cách đây năm mươi năm cũng là tiên đoán tài tình,vì ba đời Chủ tịch trải năm mươi năm có phải ít ngày.  Phái duy vật, duy tâm tranh cãi kịch liệt,tìm mọi chứng cứ bác bỏ nhau, chứng minh luận cứ của mình đúng, nhưng chưa đến hồi kết,vấn đề duy vật hay duy tâm đúng chưa thể giải quyết một sớm một chiều được!

        Người ta nói chủ nghĩa duy tâm có từ mấy ngàn năm,chủ nghĩa duy vật mới có từ Mác đã được bao lâu,thế hệ chúng tôi từ nhỏ được bồi dưỡng chủ nghĩa duy vật từ khi cắp sách nên tin vào chủ nghĩa duy vật nhưng càng lớn có tuổi thấy nhiều sự việc hiện tượng không giải thích được nghi ngờ băn khoăn,chưa chắc cái nào đúng?

         Cách đây mấy chục năm tôi có nghe câu chuyện thày địa lý,lúc bấy giờ mới có ông Chủ tịch đầu tiên của làng. Nhiều người không tin có hai ông nữa sẽ làm Chủ tịch. Người ta bảo nhau để rồi xem, nhiều người đã chết không còn chứng kiến sự thật,tiếc cho họ quá.

         Duy tâm, duy vật ai thắng ai có lẽ còn là chuyện tranh cãi nhiều trăm năm nữa,chứ không phải vài chục năm. Còn nhiều sự việc kỳ lạ khoa học ngày nay chưa giải đáp, chưa chứng minh hay bác bỏ được.

     Những cụ bô lão gần trăm tuổi khẳng định từ nhỏ họ nghe câu chuyện từ ông bà cha mẹ anh chị,những người tận  mắt trông thấy và nghe câu chuyện ông thày địa lý,và câu chuyện lời nguyền của ông nghè cũng đúng. Chỉ hai sự việc  đủ để phe duy tâm thắng phe duy vật. Nhưng có người cãi biết đâu mấy năm nữa làng ta có Giáo sư, Tiến sĩ, hoặc họ sống ở đâu đó không về làng ai biết được?Phe kia cãi hội đồng hương làng khắp mọi miền tổ quốc lập danh sách điều tra khắp nơi, không có ai. Những người thành đạt trong kinh doanh  chỉ đến giám đốc, không có chánh phó tổng. Chính quyền chỉ đến cấp vụ trưởng, quân đội, công an chỉ đến cấp Đại tá,không có Tướng.

      Người giàu cũng chỉ thường thường bậc trung,một vài người làm ăn ở nước ngoài có triệu phú Đô la nhưng rất hiếm. Sự học hành thành đạt phải có “đất” hay có phong trào, nói theo kiểu mới, phải có truyền thống lâu đời, không có đột biến nhanh được.

       Kể cả những người nơi khác đến, ngày xưa là dân ngụ cư. Rõ ràng làng tôi từ ngày ông Nghè mất không có ai đỗ đạt cao, ngày xưa là ông Nghè, ngày nay là Giáo sư, Tiến sĩ.

 

 

                                                                                                *        *        *

 

          Ông Chủ tịch huyện thứ ba làng tôi không phải trường kỳ mai phục như ông Chủ tịch thứ hai. Người con nuôi của bố ông từ mấy chục năm trước làm to dưới tỉnh nâng đỡ,ông vốn là kỹ sư thú  y  mới ra trường công tác trên miền núi,hàng năm chỉ về nhà đôi lần vào dịp tết Nguyên đán và kỳ nghỉ phép,cô vợ trẻ phòng không bóng lẻ, xác thịt đòi hỏi lại thiếu thốn nên ngứa ngáy lẽ đương nhiên.

          Xung quanh nhiều người nhòm ngó, cảnh cơm treo mèo nhịn đói. Người xa vợ con ,vợ xấu già,cùng cảnh ngộ: “Dốc bồ thương kẻ ăn đong…”.  Hai bên cùng liếc mắt đưa tình,chúng mình cùng muốn, lòng vả cũng như lòng sung,ông mất chân giò bà thò chai rượu,đôi bên cùng có lợi mất gì của ai.Thế nào thì nó vẫn thế …“Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao…” .“Có chồng càng dễ chơi ngang…”…Hai đứa con ra đời anh kỹ sư không biết có phải bố hay chỉ tráng men? Vợ con ở trên huyện, họ hàng cha mẹ anh em ở quê không ai ngăn cản cấm đoán,dư luận xì xào nhưng không ai biết thế nào?Không ai biết ma ăn cỗ,người đời thêu dệt thêm cho ly kỳ hấp dẫn,người thân có nghe,nhưng không có chứng cớ,không ai bắt được trai trên gái dưới,lời đồn cứ lúc đậm lúc nhạt to nhỏ thì thào,lặp đi lặp lại,giống chuyện “Tăng Sâm giết người?”. Sự việc đến tai anh chồng,ở đời mắt không nhìn thấy tim không đau. Nhìn không rõ ràng, hư hư thực thực càng tức và khó chịu, sự ghen tuông bóp nghẹt trái tim con người,lòng muốn không phải, nhưng lại nghi ngờ dằn vặt đau khổ lo lắng mất ăn mất ngủ,tâm trạng hoang mang không yên tâm công tác và làm việc được. Những ngày nghỉ ở nhà không thấy biểu hiện gì?Mọi việc bình thường,vợ con vui vẻ chăm sóc chiều chuộng thương yêu chồng con hết mực. Nên không dám hé răng về sự nghi ngờ và lời đồn thổi. Gái đĩ già mồm nó sẽ chối bay chối biến, không có chứng cớ hay bắt qủa tang  đời nào nó chịu. Đành ngậm bồ hòn làm ngọt âm thần lặng lẽ ra đi mang theo nỗi uất hận trong lòng.

       Dư luận nổi như sóng cồn làm anh ta không yên tâm, lời đồn về làng  gia đình bố mẹ anh em không có cách gì giúp đỡ ngăn chặn,khuyên anh nghỉ việc về xuôi một thời gian xem thế nào?

       Anh ta ở nhà theo dõi chăm sóc giữ gìn,“Rút dây động rừng”,có bóng dáng hổ báo hươu nai lủi hết,hàng tháng không có động tĩnh dấu hiệu. Họ nằm im chờ thời, ai dại giơ mặt lúc này,chỉ khi nào quá mù ra mưa, quyến luyến nhau quá,không chịu được, hay có tình cảm gắn bó chặt chẽ đến mức không rời ra được mới đi lại,chỉ chơi bời lấp chỗ trống dại gì?

      Đợi sóng yên biển lặng thuyền lại ra khơi đánh bắt xa bờ,hổ báo về rừng hươu nai lại ung dung gặm cỏ,kẻ ngu si dại dột mới manh động.

Anh ta nằm ở nhà chán lại về rừng xanh núi thẳm,bỏ lại cô vợ hừng hực sức xuân. Anh ta ra đi đôi tình nhân lại gắn bó mật thiết, có lúc quá mù ra mưa không giữ gìn ý tứ, có người gặp họ dắt tay nhau vào khách sạn,vì ở nhà dễ bị nhòm ngó.

      Dư luận lại nổi lên ầm ỹ,anh chồng nơi rừng rú nhận được thư gia đình lần này quyết định về hẳn rồi tính sau,bỏ nơi ma thiêng nước độc chẳng lợi lộc gì?Về nơi phố thị gom góp tiền bạc mua mảnh vườn có ao cải tạo nuôi ba ba ếch nhái, sử dụng chút kiến thức học trên trường đại học,kẻo bỏ phí. Ba ba theo thuồng luồng, ếch nhái thành ễnh ương, trương phềnh bụng.

      Anh ta quay sang thiến gà, chó, lợn, bò,kiếm ăn qua ngày,kẻ thức giả nằm chờ thời, rồng vàng ẩn mình nơi ao tù, chuẩn bị vượt biển khơi,có ngày tung hoành khắp cõi,số phận con người nhiều khi rất kỳ diệu không sao biết được.  Cô vợ thấy chồng ở nhà, bỏ thói lẳng lơ, chí thú làm ăn thu vén cho chồng con,những kẻ rập rình trộm tình thấy chồng con người ta bên cạnh lảng đi chỗ khác, dại gì dây vào chẳng phải đầu cũng phải tai. Con cái cũng lớn không bịt mắt chúng mãi được. Anh chồng cũng là hạng biết nhẫn nhục chịu đựng chờ thời,có ngày bước vào con đường danh vọng,chịu khó tu nhân tích đức,để lại hồng phúc cho con cháu.

       Qủa nhiên vài năm sau có người giúp đỡ vào cơ quan huyện làm việc tại phòng tổ chức,cán bộ tổ chức ai làm cũng được,nghề tổ chức là một nghề không cần chuyên môn chủ yếu phải có dây dợ cánh vế con ông cháu cha. Anh ta dần bước lên nấc thang đầu tiên trên con đường hoạn lộ nhờ có người túm cổ lôi lên. Con nuôi bố anh đưa lên Phó Ban tổ chức Huyện ủy rồi Trưởng Ban, Phó Chủ tịch huyện dưới trướng ông Chủ tịch thứ hai của làng tôi,các cụ bô lão đã mẩm chắc anh ta sẽ ngồi ghế Tri huyện không còn bao xa. Lời thày địa lý năm xưa trở thành hiện thực không thể chối cãi.

      Cũng có người bác bỏ, chưa chắc biết đâu người khác thì sao. Những người này chưa tin lời thày địa lý nên cố cãi,nhưng số trời đã định không ai cưỡng lại được,thiên cơ đã định con người không xoay chuyển nổi.

      Xưa kia Cao tổ nhà Hán muốn giết Hàn Tín vì sợ ông ta có tài nên vu cho tội mưu phản,có người than rằng: Sao Hàn Tín ngu muội thế, thiên hạ đã định rồi, lại muốn làm phản cơ chứ?Thực ra họ chửi Lưu Bang ngu, chứ Hàn Tín đâu muốn làm phản, Tín là người thông minh tài giỏi sao lại không hiểu thời thế. Là người trả ơn bát cơm nghìn vàng sao lại quên ơn Hán Cao tổ? Nhưng lại không  biết tiến thoái đúng lúc, để lại vô cùng đau xót cho hậu thế, nếu ông nghe lời nhiều người khuyên thì sao chết về tay con mụ đàn bà. Nhưng số trời đã định, con người không xoay chuyển được, lịch sử vẫn là điều bí ẩn mà con người không hiểu nổi.

     Số trời đã định làng tôi có ba ông quan huyện rồi không ai phản bác được. Ông Chủ tịch thứ ba làng tôi ngồi yên vị có quyền lực trong tay, có nhiều người vây quanh nhờ vả,có các cô gái trẻ ham muốn danh vọng địa vị  tiền bạc,có địa vị quyền lực là có tiền.

      Nhớ lại mối hận xưa kia với người vợ dám coi thường và không chung thủy, ông ta trả thù,“Quân tử báo thù mười năm chưa muộn…”

     Bây giờ vợ ông ta nhan sắc tàn phai,sồ sề lại không có quyền hạn gì. Ông thì đang sung sức cường tráng lại tẩm bổ không thiếu thứ gì,nhớ lại thời đói rét nơi rừng thiêng nước độc,bị vợ coi thường, người đời khinh rẻ,ông trả thù đời, thù vợ,ông ăn chơi xả láng,nay nhà hàng, mai khách sạn,lại vào thời kỳ bung ra làm ăn, các doanh nghiệp lôi kéo chiêu đãi. Đưa ông vào chốn bồng lai tiên cảnh,những cuộc vui suốt sáng trận cười thâu đêm. Vợ ông biết mình lép vế, an phận ở nhà nuôi con không dám hé răng.

      Có một cô giáo cấp hai không an phận với việc gõ đầu trẻ,muốn làm ông nọ bà kia. Có người mối lái dẫn dắt cho ông Chủ tịch,ông có quyền lực, cô có chút nhan sắc còn rớt lại chưa sử dụng hết vốn tự có muốn kinh doanh lấy lãi,trao đổi đôi bên cùng có lợi,ông ta vui vẻ, cô được cất nhắc,chẳng ai mất gì.

      Học tập hai người tiền nhiệm muốn lưu danh ở quê hương, theo đòi người xưa áo gấm về làng,anh có thể xông xênh mũ cao áo dài ở đâu nhưng người làng không ai biết thì chẳng có ý nghĩa gì? Các quan chức ngày nay đều bắt chước Hán Cao tổ khi làm Vua về làng khao các cụ bô lão trong làng, sau bao năm bôn tẩu ăn cơm góp thiên hạ nay công thành danh toại về ra mắt tổ tiên làng nước để cha mẹ mát mặt với bà con làng xóm,rạng danh tổ tông.

      Ông Chủ tịch thứ ba làng tôi không làm nhà to ở quê, giống ông Chủ tịch thứ hai, ông không co kéo dự án làm công trình kinh tế,ông xây dựng công trình "tâm linh", ông nghe lỏm người ta nói thế kỷ 21 là thế kỷ tâm linh,ông đứng ra vận động xây đình làng.

      Làng tôi đầu những năm sáu mươi chính quyền do các ông nông dân bần cố nông đa phần mới biết chữ thời bình dân học vụ chưa đọc thông viết thạo cầm quyền; rất hăng hái trong phong trào chống phong kiến,chống mê tín dị đoan nên đình đền bị phá sạch,đồ thờ cúng cho vào lò đun gạch,tượng phật bằng đất vứt bụi tre xó chuối trẻ con nghịch đái vào, có đứa về nhà "chim" sưng to như quả chuối, bố mẹ phải mời thày cúng mới khỏi,có người lấy bát hương mang về đựng muối ăn vào bị chướng bụng sợ quá phải làm lễ tạ rồi mang trả, từ đó không ai dám động đến các đồ thờ cúng của đình chùa.Họ không có chút kiến thức nào về văn hóa lịch sử,tâm linh,người cộng sản vô thần,nhưng họ duy tâm, mê tín. Khi có phong trào khôi phục nề nếp làng xã hương ước từ bao đời thì chẳng còn gì?Dân làng không có chỗ hội họp,có nơi ngồi họp trong ngôi nhà xưa vốn là kho thuốc sâu của hợp tác xã mùi thuốc xông lên nồng nặc.

      Nhà thờ ông Nghè họ Lê, cũng bị phá,không còn di tích,vì ông Nghè là tàn tích phong kiến,phải đào tận gốc trốc tận rễ,sự thối nát hủ bại?

    Các ngôi đền trong làng ngoài ngõ,đều bị phá sạch,không còn bóng dáng thần linh,vì không có chỗ ẩn nấp. Dân làng nhiệt liệt chủ trương xây đình do ông Chủ tịch đề xướng, kêu gọi sự đóng góp của con em người làng sống trên mọi miền đất nước. Ông Chủ tịch gương mẫu đóng góp ngay mấy triệu. Ông còn giúp dân làng xin đất và lo giấy tờ  hợp pháp. Ngày khởi công ông Chủ tịch về tham dự bổ nhát cuốc đầu tiên có quay phim chụp ảnh do đài truyền thanh huyện tổ chức.

      Do không có chuyên môn hướng dẫn chỉ đạo vẽ thiết kế,ngôi đình xây kiểu nửa kim nửa cổ, nửa Tây nửa Tàu,người ta đổ mái bằng trần nhà, làm mái phía trên lợp ngói,mọi người đi qua tưởng họ xây trụ sở. Hay nhà văn hóa, lời ra tiếng vào, kẻ chê người khen loạn sị,có người nói giống nhà kho của hợp tác xã trước kia.

     Ngày khánh thành ông Chủ tịch lại về cắt băng, lại quay phim chụp ảnh. Để tỏ lòng biết ơn ông Chủ tịch có công lao to lớn trong việc xây đình,dân làng đề nghị bố ông giữ thủ từ, ngườ làng xì xầm bàn tán chuyện tiền công đức không minh bạch? Vì thế nhiều người nói: “Đình ông Chủ tịch”, chỉ lợi bố ông Chủ tịch.

     Ba câu thành ngữ, dân làng tôi nói ngắn gọn : “Nhà ông Chủ tịch”, “Mương ông Chủ tịch” , “Đình ông Chủ tịch”, gắn với ba công trình của ba ông Chủ tịch,hai công trình thành phế tích. Một công trình nửa cổ nửa kim. Cả ba đều để lại tai tiếng.

      Chuyện người thày địa lý năm xưa hiệu nghiệm không ai còn nghi ngờ băn khoăn thắc mắc,nhưng dần lãng quên,các thế hệ trẻ sinh sau đẻ muộn ít người biết, nếu không có người kể lại, không ai nhớ và để ý,người ta phải lo làm ăn kiếm sống trong thời buổi kinh tế thị trường, mua tranh bán cướp.

               Chuyện ba ông Chủ tịch làng tôi đến đây không nói nữa.

 

  (CÒN NỮA)                                                       

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

', 'images' => 'TIỂU THUYẾT :RA THÀNH PHỐ -CHƯƠNG 22', ), 6 => array ( 'blog_id' => '6031', 'title' => 'Chuyển hàng mẫu đi Trung Quốc giá rẻ nhất', 'user_id' => '9689', 'text_parsed' => '

Xline Express chuyên Vận chuyển hàng chuyên tuyến VIỆT – TRUNG với giá rẻ nhất và thời gian nhanh nhất.

- Chỉ với 7USD/ dox or hàng /1 Kg đầu tiên từ Việt Nam đến mọi nơi của Trung Quốc. Hàng càng nhiều giá càng rẻ
Gửi được đa dạng các mặt hàng vận chuyển là một trong các thế mạnh của chúng tôi trong nhiều năm qua.

Quý khách hàng có nhu cầu mời liên hệ:
Công ty TNHH Vận tải quốc tế X-Line Việt Nam (xlex.vn)
Địa chỉ: Số nhà 30, 58/3/16 Trần Bình, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội.
Tel: 0462594512 – Hotline: 01686524088 Ms Nhung

', 'images' => 'Chuyển hàng mẫu đi Trung Quốc giá rẻ nhất', ), 7 => array ( 'blog_id' => '5153', 'title' => 'lễ hội chùa Keo', 'user_id' => '8656', 'text_parsed' => '

 

 

 

 

Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

 Chùa là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Việt Nam. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo.

Từ thành phố Nam Định, qua cầu Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng, đi khoảng 10km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng, chùa Keo với gác chuông như một hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn. 

Theo sách Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục, chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được Không Lộ xây dựng từ năm 1067 tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng lên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng lên chùa Keo - Thái Bình. Việc dựng chùa mới được bắt đầu từ năm 1630, hoàn thành năm 1632, chùa được dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng, và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ 17, 18 và năm 1941.

chuakeo.jpg

Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m². Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16). Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Sau chùa Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ, người khai sơn ngôi chùa vào thời Lý.

Công trình kiến trúc nổi tiếng của chùa là gác chuông. Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái, kết cầu bằng những con sơn chồng lên nhau. Tầng một có treo một khánh đá dài 1,20m, tầng hai có quả chuông đồng cao 1,30m đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông năm 1686, tầng ba và tầng thượng treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69m đúc năm 1796.

Đến thăm chùa, du khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành. 

Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Hội chùa

Hằng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng âm lịch, nhân dân làng Keo xã Duy Nhất lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa. Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng chín âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm ngày Thiền sư Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (Ngài qua đời ngày 3 tháng 6 âm lịch). Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trên con sông Trà Lĩnh ngang trước chùa chảy ra sông Hồng, người đi hội đổ về xem cuộc thi bơi trải, thi kèn trống, thi bơi thuyền và biểu diễn các điệu múa cổ. Trong chùa thì có cuộc thi diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.

Thánh tượng

Chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ.

Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền rằng từ khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng. Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa. 

Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải làm theo một nghi thức được quy định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.




 


Dù ai ngang dọc tây đông 
Ngày rằm tháng chín hội ông nhớ về 
Dù ai bận rộn trăm nghề 
Ngày rằm tháng chín nhớ về hội ông (8). 

Lễ hội chùa Keo là dịp để dân làng Hành Thiện thể hiện lòng tự hào về một nhân vật lịch sử, một danh nhân, anh hùng sáng tạo văn hóa đã có những đóng góp hết sức quan trọng đối với quốc gia Đại Việt thời Lý; qua lễ hội dân làng tri ân vị thánh tổ, vị thành hoàng làng mình. Ngày nay, trước ngày tổ chức lễ hội chừng nửa tháng (khoảng từ 1-9) công việc được bắt đầu. Chùa được quét dọn sạch sẽ, phong quang, tượng thiền sư Dương Không Lộ cùng các nghi vật, nghi trượng, đồ thờ được lau chùi sạch sẽ, sắp xếp, sửa sang cẩn thận. Đèn nến được thắp sáng, khói hương nghi ngút lan tỏa khắp chùa. Hương, hoa, trà, oản quả được dâng lên. Càng đến gần ngày mở hội, không khí chuẩn bị càng trở nên khẩn trương, náo nhiệt, cờ hội được cắm suốt từ tam quan chùa, dọc làng Hành Thiện ra tận con sông đầu làng như thúc giục mọi người nhanh về dự hội càng làm cho không khí lễ hội trở nên khẩn trương, náo nhiệt. 25 lá cờ đại được dựng quanh làng làm nổi bật quang cảnh làng quê vào hội, kích thước mỗi lá cờ là 2,7 x 3,7m (xấp xỉ 10,70m2 kể dải cờ). Viền cờ và dải cờ có diềm hình lưỡi lửa. Hai mặt lá cờ một bên đề chữ Thánh cung vạn tuế, bên kia đề tên phe tham gia lễ hội. Trong khi cả làng đang chuẩn bị chu tất, các gia đình trong làng cũng sửa sang, quét dọn nhà cửa, may sắm quần áo đẹp, từ người già đến trẻ em, ai ai cũng náo nức mong chờ đến ngày chính hội. 
Đến ngày 12-9, tất cả công việc đã được chuẩn bị chu tất để bước vào ngày hội với các nghi thức tế, lễ, diễn xướng, trò chơi truyền thống. 
Do đặc điểm chùa Keo không có sư trụ trì tu hành, do vậy các công việc tế, lễ và thực hiện các nghi thức tôn giáo đều do các thày chùa đảm nhiệm (có tài liệu còn gọi là ông thống). Những thày chùa được dân làng tín nhiệm chọn, ngoài khả năng tổ chức, điều hành phải là người có uy tín trong dân, có tư cách đạo đức tốt, được mọi người nể trọng…
Vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu là những năm phải trang hoàng chùa và tượng thì công việc chuẩn bị cho lễ hội tiến hành sớm hơn, khoảng từ mùng 8,9. Ngoài việc sửa sang chùa, cảnh sạch đẹp, gọn gàng, thay áo cho tượng thiền sư Không Lộ, vào những năm hạn hán hoặc thời tiết thay đổi bất thường, dân làng Hành Thiện còn làm lễ tắm tượng. 
Theo truyền thống, lễ rước kiệu trong lễ hội xung quanh làng Hành Thiện. Cuộc rước bắt đầu khoảng 7 giờ sáng. Đi đầu là thuyền rồng, tiếp theo là hương án, long đình, kiệu đựng thùng sắc chỉ vua ban, kiệu chính (không có bài vị), kiệu hờ. Tổng cộng năm cỗ kiệu. Từ sân chùa, đoàn rước qua cổng phía đông, theo lối đường làng đến miếu chợ thì dừng lại (hoặc vòng ra lối trước đình mới dừng lại). Sau khi đoàn bơi trải về, đoàn rước tiếp từ miếu chợ hoặc từ đình, diễu quanh hồ về chùa, nhập cổng tây (xuất đông nhập tây), khi về đến chùa là đã quá nửa buổi chiều. Lúc đoàn rước đi qua đầu các dong, các dong phía trước và phía sau đều bày hương án, nghi ngút khói hương và hoa quả, sản vật để bái vọng thiền sư. Đoàn rước đi trên đường làng thì dưới sông vẫn diễn ra các cuộc bơi trải tạo không khí rất sôi động.
Ngày nay, hành trình phụng nghinh được rút ngắn lại, không rước quanh làng mà rước quanh đường ngang và quanh hồ bán nguyệt trước gác chuông, song về cơ bản vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên, do hành trình ngắn, thời gian rước cũng rút ngắn lại nhiều, chỉ chừng hai, ba giờ đồng hồ là kết thúc. 
Ngoài các lễ vật thông thường như hương, đèn, hoa, trà, oản, quả thì lễ hội chùa Keo còn có lễ vật hết sức độc đáo, đó là bánh dày. Điểm độc đáo là mỗi cặp bánh dày rất lớn và trọng lượng lên đến 0,5 kg/ chiếc. Tiêu biểu nhất cho sự tích diễn xướng thi tài, giải trí ở lễ hội chùa Keo là hội bơi trải được tổ chức vào ngày 12 và chiều 15 mang ý nghĩa kỷ niệm quãng thời gian làm nghề chài lưới của thiền sư Không Lộ. Điểm độc đáo của bơi trải ở Hành Thiện là bơi trải đứng (người cầm chèo ở tư thế đứng), khiến tốc độ của trải lớn hơn nhiều so với tốc độ bơi của các trải khác. 
Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, vào các buổi sáng chiều và tối, các trò chơi, cuộc đấu, hát xướng được diễn ra xen kẽ, đều khắp cho đến khi kết thúc lễ hội. Người xem vây kín thành từng đám, chỗ chọi gà chỗ chơi cờ, tổ tôm, rộn ràng khắp sân chùa.
Có thể nói lễ hội chùa Keo Hành Thiện đã kết hợp được các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại. Thông qua lễ hội, có thể thấy được sức sống mạnh mẽ của những phong tục tập quán và văn hóa làng. 
Từ xa xưa thiền sư Dương Không Lộ đã trở thành nhân vật trung tâm của các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng trong vùng mà những dấu tích về cuộc đời của đức thánh vẫn còn hiển lộ đến ngày nay. Biểu hiện sinh động của truyền thuyết về thiền sư là lễ hội truyền thống được tổ chức từ 10 đến 15-9 hàng năm, tái hiện và trình diễn các sự tích liên quan đến cuộc đời đức thánh tổ. Do đặc điểm thiền sư Không Lộ không có đồ đệ kế tục mang tính chất truyền thừa, nên việc phụng thờ thánh do những vị mang tính chất như ông thống, đảm nhiệm và là việc của tất cả những người dân sống trong phạm vi ảnh hưởng của thiền sư, coi thiền sư là thánh tổ. Qua lễ hội, chúng ta phần nào có thể hình dung được sự thật lịch sử xung quanh nhân vật huyền thoại đã được lưu truyền rộng rãi trong dân gian qua bao lớp sương mù của thời gian và khói hương nghi lễ. Qua đó chúng ta có thể hiểu được vai trò của Phật giáo đối với vương triều nhà Lý và phục dựng nhân cách văn hóa tiêu biểu thời Lý; thời mà Phật giáo đóng vai trò là quốc giáo mà thiền sư Dương Không Lộ là một nhân cách văn hóa tiêu biểu của thời kỳ này.

Nguồn: www.phatgiao.vn, WIKIPEDIA
', 'images' => 'lễ hội chùa Keo', ), ); ?>
Tự ghép hình ảnh dễ thương
Ghép khung ảnh dễ thương
Ghép khung ảnh dễ thương
Ghép ảnh online
Ghép ảnh online
Tùy ý thư pháp - Tạo chỉnh sửa chữ thư pháp theo ý
Tùy ý thư pháp
Tạo thiệp theo sự kiện - tạo thiệp 8/3, tạo thiệp 30/4
Tạo thiệp theo sự kiện
Viết lời yêu thương
Tạo album Slideshow hình có nhạc
Tạo album Slideshow hình có nhạc
Ghép tên lên ly Cốc
Ghép tên lên ly Cốc
Tạo ảnh avatar, tạo ảnh chibi, Vẽ ảnh chibi ngộ nghĩnh
Vẽ ảnh chibi ngộ nghĩnh
Tạo chữ - Thơ thư pháp - viết thư pháp đẹp
Tạo chữ - Thơ thư pháp
Chỉnh sửa hình ảnh với photoshop
Photoshop Online
Hãy đến với Liên kết Việt
Back To Top
Trở về trước