{{title}}

{{message}}

Bài viết nổi bật
loading...
Hãy đến với Liên kết Việt

bởi - cập nhật lúc: 09:33:14 11/01/2017 - Lượt xem: 1,143 lượt


loading...

Reign Media is Silicon Beach’s premier creative agency offering result-driven social media management, search engine marketing, white hat SEO, production, reputation management, logo design, Apple and Android app development, responsive website design/development and growth hacking services for Instagram. We transform companies into brands through turning prospective customers into loyal brand advocates. We have had clients in over 30 industries, and we have all five star ratings on Google Reviews. On average our clients stayed on board with us for 5½ months. On average our clients have increased their:

✔ website traffic by over 1,300%

✔ online conversions by 240%

✔ engagement (likes/follows/comments) by over 900%

Notable brands Reign Media has silicon beach creative agency implemented SEO-driven digital marketing initiatives for have included Fiji Water, Honk for Help, Zico Coconut Water, Morgan’s Jewelers, Belkin and Ciroc Vodka. Reign Media is the digital marketing firm to do business with because we prioritize and personalize our services focusing first and foremost on making sure our clients ROI from our services while seeing a return from the customer engagement and brand equity.
loading...

Hãy đến với Liên kết Việt

Nếu bạn thấy hay hãy chia sẽ lên Facebook Chia sẽ facebook

ội còn có vai trò liên kết cộng đồng và chứa đựng nhiều ý tưởng sáng tạo, thể hiện khát vọng đất nước được thái bình, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Về mặt mỹ thuật, Hội Gióng mang nhiều nét đẹp và giá trị của lễ hội như các đám rước, các hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, diễn xướng dân gian, múa hát ải lao, múa hổ…
Ngày 16/11/2010, tại thành phố Nairobi (thủ đô của Kenya), trong kỳ họp thứ 5 của Ủy ban liên Chính phủ theo Công ước năm 2003 của UNESCO, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc đã chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. UNESCO đã ghi nhận một cách ngắn gọn và đầy đủ về Hội Gióng, đó là “Một bảo tàng văn hóa của Việt Nam, lưu giữ nhiều lớp phù sa văn hóa, tín ngưỡng”.
Có lẽ bất kỳ người Việt Nam nào cũng biết về cậu bé Thánh Gióng. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc gắn với truyền thuyết về một cậu bé được mẹ sinh ra một cách kỳ lạ ở làng Phù Đổng. Khôi ngô, tuấn tú nhưng lên 3 mà vẫn chưa biết nói, biết cười, suốt ngày cậu chỉ nằm trong thúng treo trên gióng tre, vì thế được đặt tên là Gióng. Vậy mà khi nghe thấy lời kêu gọi của nhà Vua tìm người tài giỏi đánh giặc ngoại xâm, Gióng bỗng lớn nhanh như thổi, rồi xung phong ra trận cứu nước, cứu dân. Sau khi dẹp tan quân giặc, ngài về núi Sóc rồi cưỡi ngựa bay lên trời .Từ đó, ngài Gióng được thiêng hóa thành một vị Thánh bất tử bảo hộ mùa màng, hòa bình cho đất nước, thịnh vượng cho muôn dân. Để tưởng nhớ công ơn của ngài, người dân lập đền, thờ phụng và mở hội hằng năm với tên gọi là Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.
Là một hội trận được trình diễn bằng một hệ thống biểu tượng độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa Việt, được cộng đồng bảo tồn nguyên giá trị cho tới ngày nay, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11 năm 2010.
Hội Gióng là lễ hội lớn và đặc sắc tưởng nhớ Thánh Gióng, 1 trong 4 vị Thánh được cho là “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Có 2 hội Gióng tiêu biểu ở Hà Nội là hội Gióng Sóc Sơn ở đền Sóc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (nơi thánh Gióng bay về trời) và hội Gióng Phù Đổng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm (nơi sinh ra thánh Gióng) đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Giá trị nổi bật toàn cầu ở hội Gióng chính là một hiện tượng văn hóa được bảo lưu, trao truyền khá liên tục và toàn vẹn qua nhiều thế hệ. Mặc dù ở gần trung tâm thủ đô và đời sống cộng đồng trải qua nhiều biến động do chiến tranh, do sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa, hội Gióng vẫn tồn tại một cách độc lập và bền vững, không bị nhà nước hóa, thương mại hóa.
Hội Gióng là một lễ hội văn hóa cổ truyền mô phỏng một cách sinh động và khoa học diễn biến các trận đấu của thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân. Thông qua đó có thể nâng cao nhận thức cộng đồng về các hình thức chiến tranh bộ lạc thời cổ xưa và liên tưởng tới bản chất tất thắng của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.
Tại Hội Gióng Sóc Sơn, nghi lễ chủ yếu trong ngày chính hội là dâng hoa tre ở đền Sóc(thờ Thánh Gióng) và chém tướng giặc. Hội Gióng Phù Đổng có dàn vai diễn hết sức phong phú và độc đáo. Đó là các ông “Hiệu“, hệ thống tướng lĩnh của Ông Gióng: “Phù Giá“,đội quân chính quy ; các “Cô Tướng“, tượng trưng các đạo quân xâm lược; Phường “Ải Lao“, trong đó có “Ông Hổ“, đội quân tổng hợp, “Làng áo đỏ“, đội quân trinh sát nhỏ tuổi; “Làng áo đen“, đội dân binh v.v…
Theo đó, hội Gióng ở xã Phù Đổng (Gia Lâm), Phù Linh (Sóc Sơn) và nhiều địa phương khác sẽ tiếp tục được tuyên truyền, quảng bá, nâng cao ý thức cộng đồng về các giá trị văn hóa phi vật thể của di sản; Tiến hành kiểm kê khoa học về lễ hội phụng thờ Thánh Gióng; Lập danh sách những người thực hành lễ hội, từ các ông Hiệu Cờ, Hiệu Trống, Hiệu Chiêng, Hiệu Tiểu Cổ, các nữ tướng đến các nghệ nhân phường ải Lao, nghệ nhân làm vọi, làm “hoa tre” ở các huyện Sóc Sơn, Gia Lâm, Đông Anh…; Sưu tập, dịch ra chữ quốc ngữ các văn bia, thần tích, sắc phong liên quan đến Thánh Gióng; đồng thời sử dụng công nghệ tin học để lưu trữ các dữ liệu khoa học về hội Gióng xây dựng cơ sở dữ liệu, khoa học về Hội Gióng phục vụ công cuộc
nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Với những người thực hành lễ hội, bảo vệ di tích sẽ được Nhà nước hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động.
Ngoài ra, không dừng lại ở việc bảo tồn Bộ VH,TT&DL sẽ phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chuyên đề hội Gióng và đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông; sẽ tu bổ, tôn tạo các di tích liên quan đến hội Gióng bị xuống cấp, sẽ thành lập trang web riêng về hội Gióng để phục vụ việc phát triển du lịch.
Bảo tồn và phát huy giá trị không gian Hội Gióng nhằm phục vụ du lịch và phát triển du lịch bền vững sẽ góp phần vào sự phát triển văn hoá – kinh tế – xã hội tại Gia Lâm và Sóc Sơn và một số địa phương khác trên địa bàn TP Hà Nội.
Sở Văn hoá, Thể Thao và Du lịch Hà Nội vừa tổ chức Hội thảo khoa học về Đề án phát huy giá trị “Không gian lễ hội Gióng” tại Gia Lâm và Sóc Sơn nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền, những người làm công tác chuyên môn và cộng đồng về giá trị không gian Hội Gióng.
Đề án được xây dựng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị không gian Hội Gióng nhằm phục vụ du lịch và phát triển du lịch bền vững, góp phần vào sự phát triển văn hoá – kinh tế – xã hội tại hai huyện Gia Lâm và Sóc Sơn cũng như một số địa phương khác trên địa bàn thành phố. Mục tiêu của đề án còn nhằm quảng bá giá trị đi sản Hội Gióng đến khách du lịch trong nước và quốc tế.
Những kết quả đó sẽ làm sáng tỏ các tiềm năng du lịch, tạo tiền đề cho việc đào tạo, bồi dưỡng nang cao nhận thức của chính quyền và cộng đồng, đặc biệt là những người làm công tác du lịch về giá trị đi sản, cách thức nhận diện và bảo vệ di sản trong đời sống đương đại.
Bên cạnh đó, khuyến khích và ủng hộ sự chủ động tích cực của cộng đồng tham gia vào việc khai thác giá trị không gian Hội Gióng với ý nghĩa họ vừa là chủ thể đi sản, vừa là người mang di sản đến với khách tham quan/công chúng nhằm phục vụ và phát triển đời sống kinh tế xã hội của chinh mình. Hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng cơ sở (bao gồm cả những thiết ché văn hoá hình thành mới như bảo tàng cộng đồng, không gian văn hoá làng…) trong không gian tổng thể tại mỗi địa phương nhằm tạo môi trường du lịch để đáp ứng yêu cầu phục vụ khách tham quan.
Đã 4 năm kể từ khi lễ hội Gióng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại; thế nhưng, không gian của lễ hội gắn với hàng loạt di tích có giá trị hàng trăm năm này chỉ tấp nập vào ngày hội. Thời gian còn lại trong năm, dù cảnh quan sinh thái hữu tình với các di sản có kiến trúc nghệ thuật độc đáo, đền Sóc (Sóc Sơn), đền Phù Đổng (Gia Lâm) vẫn không đủ sức níu chân du khách.
Về đền Phù Đổng vào một ngày không phải dịp lễ hội, cảnh sắc nơi đây vắng vẻ và đìu hiu đến lạ. Phải nhờ những tấm banner đã bạc màu, du khách mới có thể tìm thấy lối đi từ đường vành đai 3 vào đền. Ngày thường, con đường đê dài hơn một cây số ấy vốn đã chật hẹp, thì ngày hội thường xuyên ách tắc. Không bãi đỗ xe, đường khó đi, chưa kể các dịch vụ phục vụ khách du lịch như ăn uống, quà lưu niệm ở đây rất hạn chế. Ngoài Ban khánh tiết của đền, chưa có nguồn nhân lực khác phục vụ khách du lịch. So với những giá trị di sản độc đáo của đền Đại Bi, tượng Đại Thánh Gióng trên núi Chồng, đền Thanh Nhàn, đền Hạ Mã… được người đời đánh giá có một không hai thì hội Gióng được chưa thực sự phát huy hết giá trị của di sản.
Để “hút khách”, đề án Phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng đã đề xuất một số mô hình phát huy giá trị không gian hội Gióng gắn với phát triển du lịch bền vững. Theo PGS.TS Bùi Quang Thanh – Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia, việc đầu tiên cần làm là tập trung vào công tác quảng bá cho đông đảo khách du lịch biết đến các di tích văn hóa – du lịch gắn với di sản hội Gióng, không chỉ vào ngày chính hội mà thường xuyên quanh năm. Để làm được điều đó, đề án đã đặt ra những nhiệm vụ ưu tiên hoàn thiện hạ tầng du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng bảo tàng cộng đồng, xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm, xây dựng hành trình du lịch trong không gian lễ hội Gióng với các di sản xung quanh.
Song song với việc bảo tồn không gian lễ hội Gióng; công tác phát huy giá trị của lễ hội này cũng không kém phần quan trọng, giúp nó không chỉ sống mãi trong đời sống văn hóa tinh thần người dân mà còn tạo ra những giá trị vô giá khác. Trong đó, đưa du lịch vào để khai thác các giá trị văn hóa, để quảng bá di sản tới bạn bè trong nước và quốc tế được xem như là giải pháp khá cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Ông Trương Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội khẳng định: “Hội Gióng là một lễ hội đặc sắc, mang nhiều nét văn hóa riêng biệt và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại nên càng khiến nó có điều kiện hấp dẫn du khách. Những nơi diễn ra hội Gióng cũng hội đủ điều kiện phát triển du lịch như cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, dịch vụ du lịch đầy đủ, có thể kết nối với các địa danh du lịch khác. Phối kết hợp các yếu tố này, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Hà Nội đang xây dựng đề án phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng, vừa khơi dậy và quảng bá các giá trị văn hóa của di sản, vừa tạo điểm đến mới cho ngành du lịch.”
Đó là một thiện chí tốt, nhưng vấn đề là giải pháp thực hiện như nào để du lịch không làm phá vỡ không gian văn hóa, mà trái lại nó sẽ tương hỗ lẫn nhau.
Mối quan hệ này đang được các bên tính toán để du khách sớm được thụ hưởng các giá trị văn hóa đã được vinh danh là di sản của nhân loại, trong một không gian thuần Việt.
Cái khó của không gian lễ hội Gióng khi đưa vào du lịch được chỉ ra là lễ hội chỉ diễn ra vỏn vẹn vài ngày, phải làm sao để du khách có thể xem, nhìn, nghe và cảm nhận trong cả một năm.
Giải quyết vấn đề này, cả những người làm văn hóa và du lịch đều đưa ra ý tưởng, phải lấy giá trị gốc của lễ hội để duy trì thường xuyên. Có nghĩa là ngoài thời gian diễn ra lễ hội phải có sự mô phỏng trong thời gian còn lại để chuyển tải đến du khách phần hồn của lễ hội, để du khách hiểu được ý nghĩa của truyền thuyết và những giá trị trường tồn của nó. Dưới góc độ du lịch, buộc phải làm điều đó nhưng cho dù dựng lại một hay nhiều tích diễn thì tuyệt nhiên không được làm biến dạng cái gốc ban đầu. Bên cạnh đó, khi đưa du khách vào thụ hưởng không gian lễ hội Gióng, người ta cũng tính đến chuyện đầu tư hạ tầng du lịch, các dịch vụ du lịch theo hướng chuyên nghiệp hóa. Hơn nữa, những người làm du lịch có thể kết nối với các sản phẩm du lịch khác trong vùng như du lịch homestay (du lịch cộng đồng) tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm; du lịch tâm linh, du lịch sinh thái tại xã Phù Linh (huyện Sóc Sơn).
Ý tưởng phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng thông qua du lịch rất nhân văn. Tuy nhiên để hiện thực hóa ý tưởng này, vừa bảo tồn được giá trị truyền thống, vừa đem lại cơ hội cho du lịch thì không phải ngày một ngày hai. Sinh lời từ di sản là một bài toán khó đang được đặt ra cho rất nhiều di sản khác của Việt Nam. Những di sản như cố đô Huế, phố cổ Hội An… đã gặt hái được nhiều thành công, nhưng cũng có nhiều địa phương, làm kinh tế từ di sản không dễ dàng. Đặc biệt là mối lợi của di sản không dễ “cân đo” như đối với nhiều ngành công nghiệp khác. Với Hà Nội, Phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng ở Gia Lâm và Sóc Sơn không chỉ để người dân nơi đây làm giàu, mà còn đẩy mạnh lộ trình triển khai thực hiện Chương trình 04-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội về “Phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh”, góp phần thực hiện cam kết với UNESCO về bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Hội Gióng được ghi vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể là một sự kiện có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với Việt Nam, thể hiện những bước đi vững chắc của chúng ta trong công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị đối với di sản đặc biệt quan trọng này

 

', 'images' => 'HỘI GIÓNG PHÙ ĐỔNG DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM', ), 6 => array ( 'blog_id' => '268', 'title' => 'Các loại hình du lịch, du lịch cộng đồng', 'user_id' => '4', 'text_parsed' => '


Các loại hình du lịch

Hoạt động du lịch có tính đa dạng và phong phú về loại hình. Dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau có thể chia du lịch thành các loại hình khác nhau như sau:

-         Căn cứ vào nhu cầu khách du lịch, gồm các loại hình:

+  Du lịch chữa bệnh: Là hình thức đi du lịch để diều trị các bệnh tật về thể xác hoặc tinh thần. Mục đích đi du lịch là vì sức khỏe, gắn liền với việc chữa bệnh và nghỉ ngơi tạc các trung tâm nghỉ dưỡng chữa bệnh. Trong đó, có thể chữa bệnh bằng:  nước khoáng, bùn, hoa quả, sữa, khí hậu (núi hoặc nước biển)…

+ Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cho cuộc sống của con người trở nên đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày.

+ Du lịch thể thao: có thể chia ra làm hai loại là du lịch thể thao chủ động và du lịch thể thao thủ động. Du lịch thể thảo chủ động là hình thức du lịch, trong đó khách du lịch  tham gia trực tiếp vào hoạt động thể thảo như: du lịch lên núi, du lịch săn bắn, du lịch câu cá… Du lịch thể thao thụ động là những chuyến đi để xem các cuộc thi đấu thể thao, các thế vận hội…

+ Du lịch văn hóa: Mục đích nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh  vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước du lịch.

+ Du lịch công vụ: Mục đích chính nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó như đi tham gia các hội nghị, hội thảo, các  triển lãm hàng hóa, hội chợ, các cuộc gặp gỡ…

+ Du lịch tôn giáo: nhằm thỏa mãn nhu cầu tĩn ngưỡng đặc biệt  của những người theo các tôn giáo khac nhau.

+ Du lịch thăm hỏi: Phần lớn nảy sinh do nhu cầu gia tiếp xã hội nhằm thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè thân quen, đi dự lễ cưới, lễ tang…

+ Du lịch quá cảnh: Nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của quốc gia nào đó trong thời gian ngắn để đến một đất nước khác.

-         Theo phạm vi lãnh thổ, du lịch được chia thành:

+  Du lịch quốc tế: Là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm của khách nằm ở các lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.

+ Du lịch nội địa: Là hình thức du lịch mà điểm xuất phát  và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.

-         Căn cứ vào phương tiện gia thông được sử dụng, có các loại hình du lịch xe đạp, du lịch xích lô, du lịch xe máy, du lịch ô tô, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy, du lịch máy bay…

-         Theo phương tiện lưu trú được sử dụng, du lịch được phân thành: Du lịch ở khách sạn (hotel), du lịch ở khách sạn ven đường (motel), du lịch ở lều trại (camping), du lịch ở làng du lịch (tourism village)…

-         Theo thời gian của cuộc hành trình, gồm có: du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày, du lịch trong ngày, du lịch cuối tuần.

-         Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi, gồm có: Du lịch theo đoàn, du lịch gia đình và du lịch cá nhân.

-         Theo lứa tuổi, du lịch được phân thành: du lịch giành cho người cao tuổi, du lịch thanh niên, du lịch thiếu niên…

-         Theo phương thức kí kết hợp đồng du lịch, gồm có: Du lịch trọn gói, du lịch mua từng phần.

-         Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch, có các loại hình: du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển, du lịch sông – hồ, du lịch thành phố, du lịch thôn quê…

Nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhu cầu du lịch của khách ngày càng đa dạng, ngoài các loại hình du lịch đã được phân loại ở trên, hiên nay đang xuất hiện thêm các loại hình du lịch mới- hầu hết các loại hình du lịch có trách nhiệm nhằm hướng tới phát triển du lịch bền vững, trong đó nổi bật là du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Vũ Minh Huệ Sưu tầm và tổng hợp


Các bạn thân mến,

 


Lienketviet.net là Mạng Xã Hội của người Việt.


Những điều chúng ta chia sẻ ở đây ngoài việc ở trên dòng thời gian của chúng ta, lưu vào phần Bài viết của chúng ta, hiển thị lên trang Cộng Đồng  thì còn sẽ có cơ hội vào:


- Tàng Thư Văn Hóa.


- Du Lịch Cộng Đồng.


- Hội Quán... 


Ngoài ra, tất cả các bài viết trên lienketviet.net đều được tự động chia sẻ lên các trang MXH khác và các diễn đàn, nhóm mà lienketviet.net kết nối. Như vậy Lienketviet.net đã góp phần đưa tên tuổi của mỗi chúng ta, những người viết bài, đăng tin trên lienketviet.net lên một tầm cao mới. 


Còn chần chừ gì nữa? Các bạn hãy vào đây chia sẻ như Minh Huệ nhé! 

', 'images' => 'Các loại hình du lịch, du lịch cộng đồng', ), 7 => array ( 'blog_id' => '5334', 'title' => 'HOA BAN TÂY BẮC', 'user_id' => '8859', 'text_parsed' => '

HOA BAN TÂY BẮC

Tây Bắc, một vùng văn hóa, xứ sở hoa ban, quê hương xòe hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử “Tiễn dặn người yêu” nhưng cũng đầy tiếng than thở của những thân phận người “Tiếng hát làm dâu”

Vùng văn hóa Tây Bắc là vùng văn hóa có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời nhất của Việt Nam với nhiều bản sắc riêng, đầy độc đáo.

Nơi đây không chỉ kì vĩ với núi non, phong cảnh hữu tình, nên thơ mà còn là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc anh em, tạo nên một vùng đất đa dân tộc và hết sức phong phú về bản sắc văn hóa.

                               1.            Vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên


  1. 1.      Vị trí địa lí

Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, tức là vùng núi phía tây của miền Bắc Việt Nam (lấy thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn). Nó có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc, hiện nay là địa bàn của 5 tỉnh gồm Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái và một phần của tỉnh Hòa Bình.

Vùng Tây Bắc nằm bên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nậm Tao, nên ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao.


  1. 2.      Địa hình

Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở. Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m,

Pu Luông 2.983m. Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là "sừng trời" (Khau phạ), chính là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc.


  1. 3.      Khí hậu

Khí hậu Tây Bắc chia thành 2 mùa:


  • Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình vào khoảng 300C đến 320C, nhiều vùng có nhiệt độ cao trên 400C; là mùa có những cơn mưa lớn có khi tạo ra lũ ống, lũ quét, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Đây cũng là đồng bào đốt rẫy làm nương nên độ bào mòn đất xảy ra lớn nhất trong năm.
  • Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ xuống thấp trung bình dưới 100C, thậm chí có vùng xuống -50C; là vùng lạnh nhất nước ta trong mùa đông. Sương muối là hiện tượng phổ biến, trên các đỉnh núi cao còn có tuyết rơi.

                           2.            Lịch sử và dân cư

2. 1.      Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét

2. 2.      Dân cư

Tây Bắc là nơi sinh sống của hơn 20 tộc người khác nhau, trong đó phải kể đến các dân tộc như Thái (với các ngành Đen, Trắng, Đỏ), H’mông (với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa), Dao (với các ngành Quần chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ), Mường, Khơ-mú, Laha, Xinh Mun, Tày…, một bộ phận người Kinh (người Việt) và một bộ phận người Hoa.

Mật độ dân số ở đây khá thấp, năm 1978 mới có 59ng/km2. Với tỉ lệ tăng 3,5%/năm cộng với việc di dân, đến năm 1990 cũng chỉ có 120 người/km2.

2. 3.      Đặc điểm kinh tế

Hoạt động kinh tế chủ yếu của Tây Bắc là nông nghiệp: Chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm… Sản phẩm nổi tiếng ở đây có vải thổ cẩm với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.

Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc, đều làm nông nghiệp với hai loại hình: ruộng nước ở thung lũng và nương rẫy ở sườn núi. Câu ngạn ngữ Thái đã nói:

“Xá ăn theo lửa

Thái ăn theo nước

H’mông ăn theo sương mù”

Người Thái, tộc người đa số trong vùng, làm ruộng nước trong các thung lũng, các vùng lòng chảo. Người Mường và một bộ phận người Dao cũng thế. Nhưng ngay cả những tộc người này cũng phải làm thêm nương rẫy thì mới đủ sống. Người Xá, theo tên gọi miệt thị xưa, bao gồm nhiều tộc khác nhau như Khơ mú, Laha, Kháng, Mảng Xinhmun,.. họ là nương theo phương pháp thô sơ: phát rừng, đốt lấy tro, chọc lỗ tra hạt. Còn người H’mông thường ở núi cao, cũng phát rừng, nhưng lại biết dọn gốc, cày xới làm nương thâm canh. Ruộng và nương thì chỉ giải quyết được lương thực và một phần rau xanh. Thịt, cá, rau và cả lương thực khi mất mùa đều còn phải trông vào hái đượm, săn bắt. Chẳng thế mà có câu đồng dao:

“Cơm, nước ở mặt đất

Thức ăn ở trong rừng”

 

C – ĐẶC ĐIỂM VÙNG VĂN HÓA TÂY BẮC

                               1.            Văn hóa vật chất


  1. 1.      Nhà ở

           Nhà ở và quan hệ sinh hoạt trong không gian gia đình người Thái là đại diện tiêu biểu cho nghệ thuật và kĩ thuật xây dựng, kiến thức nơi cư trú và thống gia phong của đồng bào các dân tộc trong vùng. Nhà sàn của người Thái Tây Bắc là một công trình kiến trúc đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

           Nhà sàn của người Thái bao giờ cũng làm số gian lẻ, 2 đầu hồi – “tụp cống” khum khum như mai rùa, gắn với truyền thuyết về thuở khai thiên lập địa, thần rùa Pua tấu dạy cho người Thái biết cách làm nhà theo hình rùa đứng.

           Nhà của người Thái cổ bao giờ cũng có 2 cầu thang: “tang chan”“tang quản”. “Tang chan” ở cuối nhà, bên trái, dành cho phụ nữ lên xuống. “Chan” là phần nhà sàn được nối sài ra ngoài trời. Đây là nơi các mẹ, các chị, các em… thường ngồi chôi lúc nhàn rỗi, thêu thùa. Cầu thang này bao giờ cũng mang số lẻ, thường là 9 bậc ứng với 9 vía. Cầu thang dành riêng cho nam giới – “tang quản” ở đầu nhà, thường có 7 bậc ứng với 7 vía.

           Nhà sàn của người Thái cổ có hai bếp lửa. Bếp lửa phía bên “tang quản” dành cho người già, bếp chính ở phía “tang chan” dành cho nữ giới và những công việc nội trợ. Từ bếp dành cho người già đến hết cầu thang dành cho nam giới gọi là “quản”. Đây là nơi dành riêng cho đàn ông, phụ nữ không được đến khu vực này, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nơi đây còn có gian thờ tổ tiên và cột thiêng.

            Nhà sàn được trang trí nhiều hoa văn, họa tiết tinh xảo, trên bậu cửa sổ, trên bậu cửa sổ, trên các tấm ván hình răng cưa làm chấn song của sổ, trên "khau cút" của nhà người Thái đen. “Khau cút” cũng là tiêu chí đánh giá vẻ đẹp của một ngôi nhà người Thái

"Khau cút" là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc trước hết để chắn gió. Những gia đình quý tộc xưa còn làm thêm bông sen cách điệu ở giao điểm hai tấm ván và tám hình trăng khuyết hướng vào nhau so le trên "khau cút". Giải thích về biểu tượng "khau cút" có nhiều ý kiến khác nhau như: Đó là cặp sừng trâu cách điệu, biểu tượng của một nền văn minh lúa nước, hoặc đó là những búp cây guột (có nhiều ở Tây Bắc), hay gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người Thái, anh em luôn nhớ về nhau… Dù có cách giải thích thế nào, thì khi bắt gặp hình "khau cút" trên nóc nhà sàn, là mỗi người Thái đen Tây Bắc lại thêm ấm lòng, nhớ về anh em, bản mường yêu dấu.

Trên bậu cửa sổ thường chạm hình đôi thuồng luồng - linh vật làm chủ sông, suối, biểu tượng của sức mạnh và gia đình hạnh phúc. Trên các chấn song cửa sổ chạm các hoa văn, hoạ tiết mô phỏng thiên nhiên theo hình đối xứng hoặc lặp lại. Đó là những hình thoi như quả trám, hoa ban, búp cây guột …


  1. 2.      Ẩm thực

Là cái nôi của các dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Mường, Dao, Mông …, Tây Bắc nổi tiếng với những món ăn truyền thống đặc sắc. Không giống như người miền xuôi, người Tây Bắc thích thưởng thức ẩm thực trong không gian cộng đồng tại các lễ hội, chợ phiên, đặc biệt là vào ngày Tết.

Những người đã từng đi qua Tây Bắc không những không thể quên được hình ảnh các cô gái Thái với những bộ áo váy hết sức sặc sỡ đặc trưng Tây Bắc mà cũng không thể quên được những món ăn mang nét đặc trưng riêng của dân tộc như: cơm lam, gà mọ, cá suối nướng úp, nộm da trâu hay thịt trâu gác bếp v.v…

    

      


  1. 3.      Trang phục

a)  Người Mông

Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.


  • Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Họ cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
  • Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Họ để tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
  • Phụ nữ Mông Đen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
  • Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc trên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình hai cái sừng.

Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

               

          

b)   Người Thái

           Cô gái Thái rất đẹp với bộ trang phục áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu… chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc bên hông. Ngày lễ có thể vận them áo dài đen, xẻ nách hoặc kiểu chui đầu, hở ngực, có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Đen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc sặc sỡ.

           Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có hai túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Mặc quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo dài đen, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường họ cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay. 

c)  Người Xinh Mun

Y phục của người Xinh Mun giống người Thái. Trang phục truyền thống của nam giới Xinh Mun có phần hơi đơn giản. Ngoài bộ quần áo mặc hang ngày, người đàn ông Xinh Mun chỉ có thêm chiếc khăn quấn trên đầu, chiếc túi đeo bên người khi đi nương, xuống chợ. Trong khi đó, trang phục truyền thống của phục nữ Xinh Mun là váy, áo, khăn, thắt lưng. Váy thường may ngắn hở bắp chân, tạo thành một vòng khép kín chu vi khoảng 100–120cm. Khi mặc người ta kéo sát phía sau thân váy bó vào mông, phần còn thừa dồn hai bên hông và kéo về phía trước bụng.

Thông thường, áo của phụ nữ Xinh Mun được may bằng vải bông, áo có thân ngắn, cộc tới ngang eo, cổ cao và tròn, tay áo bó sát và dài tới mắt cá tay. Áo có khuy phía trước, làm bằng đồng, nhôm hoặc bằng bạc giống hình con bướm. Hàng khuy bên phải là con đực, hang khuy bên trái là con cái. Mỗi chiếc áo có từ 11-12 đôi. Khi mặc để hở phần thắt lưng tạo nên vẻ đẹp riêng của người con gái Xinh Mun.

Do ảnh hưởng của trang phục truyền thống dân tộc Thái nên cách làm đẹp của người phụ nữ Xinh Mun không thể thếu chiếc khăn piêu đội đầu. Phần lớn khăn được làm bằng vải bông nhuộm chàm. Ngoài áo, váy, khăn, phụ nữ Xinh Mun còn đẹp vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bằng bạc.

Ngày nay, trang phục dân tộc Xinh Mun đã bị mai một dần. Xinh Mun là một trong 5 dân tộc không còn giữ được trang phục truyền thống của mình.

 

                           2.            Văn hóa tinh thần

           Tây Bắc là nơi hội tụ của các cư dân thuộc các chủng tộc, các ngôn ngữ khác nhau, tạo ra bức tranh đời sống tinh thần đa dạng, muôn màu sắc.

2. 1.      Một số phong tục tập quán của các tộc người ở Tây Bắc

a)  Cưới hỏi


  • Tục cưới hai lần của người Hà Nhì

           Trong quan hệ hôn nhân, người Hà Nhì ít chịu sự ràng buộc của những lễ giáo phong kiến. Nam nữ thanh niên được tự do yêu đương, tìm hiểu nhau trước khi cưới. Người Hà Nhì có hai hình thức cưới: do bố mẹ đi hỏi và không qua lễ hỏi. Mỗi cặp vợ chồng đều trải qua hai lần cưới.

           Cưới lần thứ nhất: Người con trai rủ vài người bạn đến nhà người yêu hay một nơi nào đấy đã hẹn sẵn. Khi gặp nhau, người con gái trả lại bạn trai một đồng bạc trắng mà người làm mối đã đưa sang hôm dạm. Họ đưa nhau về nhà trai chào bố mẹ và cúng tổ tiên. Hôm đó nhà trai cũng như nhà gái đều làm bữa cơm thân mật mời bà con hàng xóm mừng hạnh phúc cho hai con. Từ đó, cô dâu ở hẳn bên nhà chồng. Sáng hôm sau, nhà trai sang nhà gái với lễ vật gồm trai rượu, cơm nếp và một quả trứng để hỏi về đồ thách cưới trong lễ cưới lần hai.

Cưới lần thứ hai: Trước kia nghi lễ này khá tốn kém, nhà gái thường ăn uống tiếp khách trong một ngày, nhà trai hai ngày. Số lượng tiền gạo chi tiêu cho ngày cưới khá lớn. Vì tốn kém như thế nên người Hà Nhì chỉ tổ chức đám cưới khi gia đình làm ăn khấm khá. Nhiều người 50, 60 năm sau khi dã có con cháu mới đủ khả năng tổ chức lễ cưới lần hai. Có người đến lúc chết vẫn chưa cưới xong. Với những người này, lúc chết trước khi làm ma, người ta phải làm lễ cưới tượng trưng là một con gà với ba gói xôi.


  • Người Dao Đỏ: Kết hôn sau hai lần ăn hỏi

Sau khi để ý từ phiên chợ hay lễ hội của bản làng, nếu thích cô gái nào thì chàng trai về nói với bố mẹ tới nhà gái hỏi tuổi người mình yêu.

Nếu hợp tuổi nhau thì gia đình chàng trai trao tặng nhà cô gái đồng bạc trắng. Nhà gái dù muốn gả con hay không thì lần xin hỏi đầu họ cũng đều từ chối nhận. Một thời gian sau, nhà trai lại tới xin ăn hỏi lần hai, nếu ba ngày sau mà không thấy nhà gái trả lại đồng bạc trắng thì nhà trai biết chắc họ đã đồng ý gả con cho nhà mình. Gia đình chàng trai chọn ngày lành tháng tốt mang lễ vật tới nhà cô gái. Sau lễ ăn hỏi chính thức, cô dâu tương lai được gia đình tạo điều kiện thời gian nhàn rỗi trong một năm để dệt may, thêu thùa hai bộ quần áo cưới từ số vải và chỉ thêu do nhà trai đưa tới hôm lễ ăn hỏi chính thức.

Người Dao đỏ quan niệm, khi người đi lấy chồng không để mặt trời nhìn thấy bởi sợ mất vía cô dâu, sẽ không gặp may trong cuộc đời sau này. Khi đoàn đưa dâu đến gần nhà trai sẽ phải nghỉ chân trên đưòng, chờ người dẫn đường của nhà trai về báo trước. Nhà trai sẽ cử một đoàn kèn, trống và ông chủ lễ ra cổng đón. Trong lúc hai bên gặp nhau thường diễn ra cuộc hát đối đáp và mời nhau uống rượu.


Người Dao đỏ còn có quan niệm: Đoàn đưa dâu của nhà gái dù gần hay xa đều phải nghỉ lại nhà trai một đêm trong gian buồng tạm trú. Nơi ngủ được làm tạm ở góc đầu đốc nhà chỉ kê vừa một chiếc giường. Lễ vật gồm: 1 con lợn nhỏ mổ sạch sẽ, 1 ít tiền âm, 1 bát hương.


  • Cưới vợ sau 3 năm ở rể của người Thái

Dân tộc Thái xưa kia có tục lệ ở rể. Chàng trai Thái khi đến tuổi lấy vợ sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý, sau đó được bố mẹ nhờ một ông mối đến nhà cô gái để làm mối. Nếu gia đình cô gái ưng ý, chàng trai sẽ bắt đầu cuộc đời ở rể.


Chọn ngày lành tháng tốt, bố mẹ chàng trai chuẩn bị sính lễ để chàng trai đến nhà cô gái ở rể. Sau khi kiểm xong lễ vật, nhà gái đưa lễ vật lên bàn thờ để báo cho tổ tiên biết nhà đã có chàng rể. Trong thời gian ở rể, chàng trai được đối xử như một thành viên của gia đình. Công làm việc hàng năm của chàng rể được quy ra bạc trắng hoặc hiện vật cưới sau này. Tùy từng gia đình mà thời gian ở rể kéo dài vài tháng, 2-3 năm, thậm chí ở rể luôn nhà gái. Nếu chàng trai ở rể suốt đời, nhà gái phải chủ động hôn nhân và phí tổn đám cưới.


Trong thời gian ở rể chàng trai phải trải qua thử thách và do vậy anh ta phải lao động chăm chỉ. Được cùng ăn với cả gia đình nhưng chàng trai phải ngủ ở vị trí dành cho khách. Sau thời gian ở rể, được nhà gái chấp nhận, để thành vợ thành chồng thì hai gia đình thông gia phải làm lễ tăng cẩu (búi tóc), chính thức công nhận đôi uyên ương là vợ chồng. 


  • Hát xin dâu, đồ lễ của người Thái Tây Bắc

Hát xin dâu, xin đồ lễ tiếng Thái là “Khắp so pợ so chương” là nghi lễ truyền thống của người Thái Tây Bắc, là nét đẹp văn hóa trong phong tục hôn nhân gia đình.


Mở đầu, bà mối hát thong báo cho nhà trai việc chọn ngày xin dâu và chuẩn bị đồ dẫn cưới đã lo chu đáo. Khi đến nhà gái, nhà trai nhún nhường và ca ngợi, đánh giá cao đức tính hay làm, biết lo toan của cô dâu tương lai cũng thong qua bà mối đại diện.


Người con gái Thái ngay từ khi mới lớn lên đã được các bà các mẹ dạy cách quay xa, dệt vải, thêu thùa và làm chăn, đệm, gối, khăn Piêu … Đây là một trong những yêu cầu cũng như tiêu chuẩn để đánh giá về sự khéo tay, bền bỉ của người con gái Thái. Khi về nhà chồng, các cô dâu mang theo khăn chăn, đệm, gối, khăn đã dày công chuẩn bị bao nhiêu năm biếu bố mẹ chồng và anh em bên nhà chồng để bày tỏ lòng kính trọng, hiếu thảo. Và khi này thì bà mối cũng lại phải cất lời hát xin đồ lễ.

b)  Ma chay


  • Tang lễ người Mường:

Với người Mường, tang lễ tổ chức rất long trọng. Những ông thầy cúng có vai trò vỗ về người chết và dẫn dắt họ về với tổ tiên.

Tử thi được đặt nằm trong quan tài độc mộc có phủ vải Mường và để bên dưới dàn y phục do họ hàng dâng cho người đó. Trước kia, thời gian để quan tài trong nhà có thể kéo dài đến 12 ngày đêm. Con trai và con gái mặc y phục trắng, còn con dâu mặc y phục tang màu đỏ, luôn sẵn sàng “phục dịch” cha hay mẹ vừa qua đời. Thầy cúng tiến hành nhiều nghi lễ. Hằng ngày, người ta cũng dâng thức ăn và rượu cho người chết, kể chuyện cho “hồn ma” đỡ buồn, con dâu thì phải “quạt ma” ( Tức là dùng quạt bằng lá cọ phe phẩy vào quan tài. Với nghi lễ này, người Mường cho rằng, phải quạt mát như vậy để cho hồn người nằm trong quan tài được mát mẻ, y như khi còn sống được con dâu ngồi quạt mát cho mẹ. Khi ngồi quạt, các cô con dâu phải ngồi vào cối đá, thứ tự được xếp từ trái qua phải là con dâu cả đứng đầu rồi lần lượt đến con dâu thứ). Cứ như thế, những áng mo diễn ra thâu đêm (những đêm mo)

      Ngày nay, tang gia thường giữ tử thi trong nhà không quá 48 giờ. Nhiều nghi thức đã được giảm bớt, các áng mo cũng rút ngắn đi. Tuy nhiên những nghi thức quan trọng theo tập tục vẫn được tuân thủ đầy đủ.


  • Đám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng, đặc biệt là bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem hài cốt đi chôn. Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên va ma nhà. Đó là các loại ma đem điềm lành đến cho con người nhưng khi giận dữ cũng có thể gây tai họa trừng phạt con người.

Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn thể hiện lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi có người đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ một gian riêng kín đáo à rất kiêng kị đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức mang đặc trưng riêng.


  • Người La Ha không có tục đốt xác mà đem chôn. Thi hài được liệm bằng vải hoặc bằng chiếu nan và khiêng ra đến mộ mới bỏ vào quan tài và hạ huyệt. Nếu người chết là bố, người con trai cầm dao phá nơi thờ cũ đuổi ma bậc ông đi để bắt đầu thờ ma bố. Nếu người chết là mẹ, con trai cầm dao đập vào phên chỗ mẹ ngủ, tượng trưng cho việc đuổi ma bậc bà đi để bắt đầu thờ ma mẹ.

Người chết được đặt nằm dưới cây xà ngang. Nếu người chết là bố thì đặt nằm dưới cây xà ngang thứ nhất, nếu là mẹ thì đặt nằm dưới cây xà ngang thứ hai, con trai cả thì cây xà ngang thứ ba… Khi khiêng người chết đi chôn, người chết là bố thì khiêng ra cửa gian khách, là mẹ thì phá vách trước khiêng ra, nếu là con thì khiêng ra cửa sàn.

Trên huyệt người ta đã dựng sẵn một cái nhà nhỏ có 2 mái cao chừng 2m. Mái nhà mồ lợp bằng gianh dỡ một phần của mái nhà ở mang ra. Người chết là bố thì dỡ gianh  ở phía đầu chỗ ngủ để lợp, nếu người chết là mẹ thì dỡ gianh ở phía chân chỗ ngủ, là con trai thì thì dỡ gianh mái hồi phía sàn phơi thóc, con gái thì dỡ gianh mái hồi phía sàn để nước. Trong nhà mồ đặt những thứ cần thiết cho một cuộc sống như: giỏ cơm, quần áo, chăn, đệm. Sau khi đưa đám trở về, người ta thường khua cối giã gạo để xua ma không quấy phá gia đình.

c) Sinh hoạt nghệ thuật trình diễn


  • Điệu “xòe” của người Thái

Múa xòe đã trở thành biểu trưng văn hóa cụ thể, đậm đà bản sắc dân tộc Thái. Múa xòe là nét đẹp hồn nhiên mang tính truyền thống đối với nghệ thuật trình diễn của người Thái, là đặc sản nghệ thuật và trở thành biểu tượng văn hóa vùng Tây Bắc.

Xòe có khoảng 36 điệu chia làm hai cấp độ xòe vòngxòe điệu. Xòe vòng là hình thức múa tập thể dân dã và xòe điệu là hình thức múa mang tính chất biểu diễn, mà đặc điểm là phô diễn vẻ uyển chuyển, đầy sức gợi cảm của người con gái Thái. Nếu xòe vòng sôi nổi bao nhiêu, thì các bài xòe điệu lại tinh tế duyên dáng bấy nhiêu.

Xòe vòng thường được tổ chức múa tập thể, mang tính cộng đồng cao, có thể múa xung quanh đống lửa sáng hoặc quanh chum rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai; trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng, thậm chí còn có cả tiếng khua “đuống” phụ họa theo. Xòe vòng nếu đông người tham gia có thể chia thành hai vòng, vòng trong và vòng ngoài xòe ngược chiều nhau, góp phần tạo nên sự sôi nổi, cuốn hút, mời gọi… Còn xòe điệu, theo thống kê thì có khoảng 32 điệu, quá trình biểu diễn thường do các cô thanh nữ trình diễn trong tiếng đàn tính tẩu của một hoặc hai chàng trai. Xòe điệu gồm những bài xòe hay như: Xòe hoa, xòe cúp (với nón), xòe khăn, xòe vi (với quạt)… Các động tác xòe điệu thường giàu chất nghệ thuật, nhẹ nhàng, tinh tế, thanh thoát, uyển chuyển và gợi cảm.

Bên cạnh là khăn Piêu, túi thổ cẩm, nhạc cụ được chế tác bằng tre, bằng đồng hay bằng bạc như Pí pặp, khèn bè, đàn tính Tẩu Thái. 


  • Nghệ thuật múa khèn của người Mông

Đối với người Mông, khi múa khèn không thể thiếu được loại nhạc cụ do chính họ làm ra, đó là khèn Mông. Với cây khèn độc đáo này, người chơi có thể thổi hơi ra, có thể hít hơi vào. Khèn cũng là đạo cụ múa có cấu tạo phù hợp với dáng khum người và các thế quay, nhảy. Nghệ nhân múa khèn với những bước nhún, bước đảo, bước quay hoặc vừa ôm khèn, vừa lăn mình trên đất tạo nên vũ đạo rất đẹp. Tiếng khèn dường như đã trở thành một phương thức để người Mông chuyển tải, thổ lộ những tâm tư nguyện vọng của mình,...

Bắt nguồn từ phong tục, tập quán mà khèn Mông có rất nhiều chủ đề và bài bản. Với tiếng khèn vui, người Mông mời gọi bạn đi chơi xuân, gọi bạn xuống chợ, chúc nhau những điều may mắn,... còn khi buồn, tiếng khèn chậm và trầm, thường thổi trong đám ma để chia buồn cùng gia đình, để tiễn đưa người mất sang bên kia thế giới,… Tiếng khèn vui khiến người nghe có cảm giác hưng phấn, rạo rực, nhưng tiếng khèn buồn có thể khiến người nghe cảm thấy xúc động mạnh mẽ.

Người Mông thường múa khèn khi có đám tang, đám giỗ hoặc trình diễn trong lễ hội. Hiện nay, múa khèn còn được dùng biểu diễn trong những dịp sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tại địa phương. 

Ngày 08/6/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Theo đó, Nghệ thuật Múa khèn của người Mông (thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian) đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.


  • Người Mường rộn ràng trong các điệu múa bông và đâm đuống cùng những đêm âm vang tiếng cồng chiêng bên bếp lửa và có rượu cần đợi sẵn … Ngoài ra, múa sạp là bản sắc văn hóa rõ nét trong mỗi kỳ giao lưu sinh hoạt văn hóa.

d)     Về lễ hội


  •  Lễ cấp sắc của người Dao

        Lễ Cấp sắc (lập tịch) của người Dao giống như lễ thành đinh của các dân tộc nước ta và trên thế giới. Trong kho tàng văn hóa của người Dao Họ, lễ lập tịch đóng một vai trò quan trọng trong đời một con người, là nghi lễ đánh dấu cái mốc của một người bước từ tuổi thiếu niên lên tuổi trưởng thành, được cộng đồng công nhận, có vị trí trong đời sống và sinh hoạt cộng đồng. Hơn thế nữa, đó còn là sự chấp nhận của thần linh cho chàng trai đó có đầy đủ mọi tiêu chuẩn của một thành viên chính thức của cộng đồng.

        Ngày hành lễ cấp sắc thường được tiến hành vào những tháng cuối năm. Trước khi hành lễ, người cấp sắc phải kiêng: nói tục, chửi bậy, quan hệ vợ chồng hay để ý đến phụ nữ... Thời gian tiến hành lễ cấp sắc 3 đèn kéo dài từ 1 đến 2 ngày; cấp sắc 7 đèn kéo dài 3 đến 5 ngày với các nghi lễ chính trình diện và thụ đèn.

            Nghi lễ cấp sắc của người Dao có nhiều bậc. Bậc đầu tiên, họ được cấp 3 đèn và 36 binh mã. Bậc 2 họ được cấp 7 đèn và 72 binh mã và bậc cuối cùng là 12 đèn và 120 binh mã. Ông thầy được chọn làm lễ phải cao tay, ngày tháng được chọn rất cẩn thận, người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ quy định trong các bản sắc. Việc cấp sắc trong gia đình được tuân thủ từ trên xuống dưới, từ cha đến con, từ anh, đến em.

Một buổi cấp sắc có thể làm cho một hoặc vài người cũng được nhưng phải là số lẻ. Người đàn ông có vợ thường được chọn để cấp sắc trước.

Gia chủ phải làm cơm, rượu cúng báo tổ tiên về việc chuẩn bị và hẹn thời điểm tiến hành lễ cấp sắc. Sau đó, phải nuôi 2 con lợn đực và cái, chuẩn bị cho việc cúng bái. Ngoài ra, phải chuẩn bị lợn, gà, rượu, gạo… để làm cỗ và vài trăm nghìn tiền mặt bồi dưỡng thầy.

Thường một lễ cấp sắc 3 đèn thì cần 3 thầy, 7 đèn thì 7 thầy. Ông thầy cả gọi là "chí chẩu sai" hoặc "cô tàn sai", các thầy phụ gồm: dần chái, tình mình, pá tạn, tông tàn.

Trong lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên. các thầy cúng phải tẩy uế xong mới đánh trống mời tổ tiên về dự, sau đó thầy cúng làm lễ khai đàn, nhằm báo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ.

Tiếp đó, tại lễ thụ đèn, người được cấp sắc phải ăn mặc chỉnh tề ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ một cây tre, nứa, ngang vai có đục và xuyên một thanh ngang dài vừa tầm vai để thầy đốt đèn, đặt nến để làm lễ.

Người thụ lễ được cấp đạo sắc với 10 điều cấm và 10 điều nguyện, tên âm của người thụ lễ cũng được ghi luôn trong đó để khi chết về được với tổ tiên.

Điều quan trọng nhất trong các buổi lễ này là cấp pháp danh cho người thụ lễ. Người thụ lễ lấy vạt áo để hứng gạo từ thầy cả và cha đẻ, sau đó quan sát và học một số điệu múa từ các thầy.

Kết thúc nghi lễ, các thầy múa để dâng rượu, lễ vật tạ ơn thần linh.


  • Ngoài ra Tây Bắc còn nổi tiếng với các hội

- Hội Hoa ban, hội Xên bản, Xên Mường (cầu mùa, cầu phúc), Hội Hạn Khuống (giao duyên), lễ hội cầu mưa của người Thái.

- Hội Xéc bùa (cồng chiêng), lễ cầu mát của người Mường

- Hội Mừng măng mọc, Cầu mùa của các dân tộc La Hủ, Khơ Mú, Mảng

- Hội Pin Pang người Thái trắng, lễ cúng bản người Cống, hội tung còn người Tày, hội đền Bản Phủ, lễ hội kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ.

e)     Về bản sắc trong văn hóa nghệ thuật

- Vùng văn hóa Tây Bắc là quê hương của các truyện thơ dân gian (đa dạng về thể loại, phong phú trong cách diễn xướng hoặc các lời cầu khấn, các bài văn vần truyền dạy đạo đức cho con cái, các thần thoại, đồng dao, cổ tích…)

- Tây Bắc là quê hương của các bản trường ca những tập dân ca đồ sộ: Táy pú xớc (Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha) kể về quá trình lịch sử của người Thái vào vùng đất này, Tẻ tất tẻ nác (Đẻ đất đẻ nước) của người Mường, Xống chụ xôn xao (Tiễn dặn người yêu) của người Thái, Tiếng hát làm dâu của người Mông,…

g)  Về các trò chơi dân gian

Sự phong phú của các lễ hội vùng Tây Bắc là minh chứng cho sự sinh tồn đa dạng của các trò chơi dân gian của con người các dân tộc, từ ném còn, đánh đu, đánh mảng, đến hàng loạt trò chơi khác vô cùng sinh động, thông minh, hấp dẫn ở các làng bản.

2. 2.      Một số nghề truyền thống

Sự thông minh, khéo tay của người phụ nữ trong việc thêu thùa và thuần thục bên khung cửi (qua những bộ trang phục, trang sức, các đồ gia dụng như chăn, màn, túi xách…). 

Nổi bật là nghề dệt của người Thái và người Mường (chiếc khăn Piêu, túi thổ cẩm) Cạp váy hoa văn Mường đã thành đề tài nghiên cứu của nhà dân tộc học Từ Chi, trở thành công trình khoa học có giá trị.

a)     Nghề thổ cẩm của người Thái Tây Bắc

b)     Nghề ghép vải, đệt vải lanh của người H’Mông

c)     Nghề làm giấy của người Mông

', 'images' => 'HOA BAN TÂY BẮC', ), ); ?>
Tự ghép hình ảnh dễ thương
Ghép khung ảnh dễ thương
Ghép khung ảnh dễ thương
Ghép ảnh online
Ghép ảnh online
Tùy ý thư pháp - Tạo chỉnh sửa chữ thư pháp theo ý
Tùy ý thư pháp
Tạo thiệp theo sự kiện - tạo thiệp 8/3, tạo thiệp 30/4
Tạo thiệp theo sự kiện
Viết lời yêu thương
Tạo album Slideshow hình có nhạc
Tạo album Slideshow hình có nhạc
Ghép tên lên ly Cốc
Ghép tên lên ly Cốc
Tạo ảnh avatar, tạo ảnh chibi, Vẽ ảnh chibi ngộ nghĩnh
Vẽ ảnh chibi ngộ nghĩnh
Tạo chữ - Thơ thư pháp - viết thư pháp đẹp
Tạo chữ - Thơ thư pháp
Chỉnh sửa hình ảnh với photoshop
Photoshop Online
Hãy đến với Liên kết Việt
Back To Top
Trở về trước